TÓM TẮT
Đánh giá – Việc đánh giá lâm sàng ban đầu cho bệnh nhân nghi ngờ mắc rối loạn mặc cảm ngoại hình (BDD) bao gồm khai thác tiền sử tâm thần, tiền sử bệnh lý tổng quát, khám trạng thái tâm thần và khám thực thể. Cần đặc biệt lưu ý đến ý tưởng và hành vi tự sát, các triệu chứng BDD dạng hoang tưởng, cũng như tình trạng sử dụng chất hoặc các triệu chứng trầm cảm đồng mắc. Một số bệnh nhân từ chối thăm khám vì không muốn người khác nhìn thấy cơ thể mình. Các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ định dựa trên tiền sử và kết quả khám lâm sàng. (Xem phần ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Phỏng vấn lâm sàng – Nhiều bệnh nhân BDD không tự nguyện chia sẻ những lo ngại về ngoại hình với bác sĩ. Để phát hiện BDD, bác sĩ lâm sàng thường phải đặt câu hỏi trực tiếp về các triệu chứng đặc trưng của bệnh (bảng 2). (Xem phần ‘Phỏng vấn lâm sàng’ ở dưới.)
Dấu hiệu chẩn đoán – Chẩn đoán BDD được gợi ý bởi một số dấu hiệu, bao gồm:
- Các hành vi cưỡng chế;
- Ngụy trang những khiếm khuyết ngoại hình (theo cảm nhận của bệnh nhân);
- Nhận thức sai lệch rằng người khác đang chú ý tiêu cực hoặc chế nhạo mình;
- Ngại ra khỏi nhà (tự giam mình trong nhà);
- Trầm cảm hoặc lo âu kháng trị;
- Lo âu xã hội và né tránh các tình huống giao tiếp xã hội;
- Tiền sử can thiệp thẩm mỹ nhưng bệnh nhân không hài lòng với kết quả;
- Từ chối cho phép bác sĩ da liễu, bác sĩ phẫu thuật hoặc nha sĩ liên hệ với bác sĩ tâm thần hiện tại hoặc trước đây khi yêu cầu thực hiện thủ thuật thẩm mỹ;
- Mong muốn hoặc theo đuổi các can thiệp thẩm mỹ mà người khác cho là không cần thiết;
- Sử dụng chất nhằm giảm bớt lo âu và phiền muộn;
- Hành vi bất thường của bệnh nhân tại phòng khám.
(Xem phần ‘Dấu hiệu chẩn đoán’ ở dưới.)
Tiêu chuẩn chẩn đoán – BDD được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần, Phiên bản thứ năm, Bản hiệu đính (DSM-5-TR) (bảng 5). (Xem phần ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt BDD bao gồm: các lo ngại thông thường về ngoại hình, khiếm khuyết cơ thể rõ ràng, rối loạn ăn uống, trầm cảm chủ yếu đơn cực, rối loạn lo âu xã hội, chứng sợ khoảng trống, rối loạn nhân cách né tránh, rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối loạn nhổ tóc, rối loạn cạy da, rối loạn lo âu về bệnh tật, rối loạn giả bệnh, các rối loạn loạn thần, phiền muộn giới, rối loạn tham chiếu mùi (hội chứng tham chiếu mùi), rối loạn lưỡng cực và phiền muộn về tính toàn vẹn cơ thể. (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)