TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng ở người mẹ – Biểu hiện lâm sàng của nhiễm virus Zika (ZIKV) ở phụ nữ mang thai tương tự như ở người trưởng thành không mang thai: khởi phát cấp tính với sốt, phát ban, đau khớp và viêm kết mạc. (Xem thêm ‘Chẩn đoán nhiễm virus Zika ở phụ nữ mang thai’ ở dưới.)
Đánh giá và chẩn đoán ở người mẹ
Nhân viên y tế nên khai thác kỹ tiền sử và tình trạng tiếp xúc dịch tễ hiện tại của bệnh nhân mang thai, bao gồm nơi cư trú, lịch sử di chuyển hoặc quan hệ tình dục không an toàn với người có nguy cơ nhiễm bệnh, cũng như các triệu chứng của nhiễm ZIKV. (Xem thêm ‘Chẩn đoán nhiễm virus Zika ở phụ nữ mang thai’ ở dưới.)
Để đánh giá những bệnh nhân mang thai có tiền sử tiếp xúc với ZIKV, chúng tôi áp dụng phương pháp chẩn đoán của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) (sơ đồ 1, sơ đồ 2 và bảng 1). CDC khuyến cáo thực hiện xét nghiệm cho phụ nữ mang thai có triệu chứng hoặc những người tiếp xúc thường xuyên với virus Zika hoặc virus dengue trong suốt thai kỳ; đối với những trường hợp không có triệu chứng và mức độ tiếp xúc hạn chế, việc xét nghiệm nên được quyết định dựa trên sự thảo luận và thống nhất giữa bác sĩ và bệnh nhân. (Xem thêm ‘Chẩn đoán nhiễm virus Zika ở phụ nữ mang thai’ ở dưới.)
Siêu âm tiền sản để đánh giá các bất thường ở thai nhi phù hợp với hội chứng ZIKV bẩm sinh được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân mang thai có bằng chứng xét nghiệm nhiễm ZIKV. Những bệnh nhân mang thai có khả năng tiếp xúc nhưng không có bằng chứng xét nghiệm nhiễm ZIKV nên được siêu âm theo lịch trình chăm sóc tiền sản định kỳ. (Xem thêm ‘Đối tượng chỉ định’ ở dưới.)
Lây truyền dọc
Di chứng – Lây truyền dọc ZIKV từ mẹ sang thai nhi trong thời kỳ mang thai có liên quan đến các di chứng nghiêm trọng, được gọi là hội chứng Zika bẩm sinh (bảng 2). Nguy cơ xảy ra các di chứng thai nhi nghiêm trọng nhất là khi nhiễm trùng trong tam cá nguyệt thứ nhất, tuy nhiên, các di chứng nặng vẫn có thể xảy ra nếu nhiễm trùng ở bất kỳ tam cá nguyệt nào. Ví dụ về tỷ lệ hiện mắc các dấu hiệu trong một số nghiên cứu tiền cứu được trình bày trong bảng (bảng 3). (Xem thêm ‘Nhiễm trùng bẩm sinh’ ở dưới.)
Đánh giá siêu âm thai – Khoảng thời gian tối thiểu từ khi người mẹ nhiễm ZIKV đến khi xuất hiện các dấu hiệu siêu âm gợi ý thai nhi nhiễm trùng hiện chưa được xác định, nhưng trong một số trường hợp có thể ngắn tới 2 tuần. Ở những bệnh nhân nhiễm trùng sớm trong thai kỳ, các dấu hiệu siêu âm liên quan đến nhiễm ZIKV ở thai nhi có thể được phát hiện sớm từ tuần thứ 18 đến 20 của thai kỳ, nhưng thường được phát hiện vào cuối tam cá nguyệt thứ hai và đầu tam cá nguyệt thứ ba.
Một khuyến cáo hợp lý là thực hiện lần siêu âm đầu tiên sau 4 tuần kể từ khi nghi ngờ tiếp xúc, sau đó siêu âm định kỳ mỗi 4 tuần một lần, đảm bảo có ít nhất một lần siêu âm trong khoảng từ tuần thứ 28 đến 33 của thai kỳ. CDC cho biết các lâm sàng viên có thể cân nhắc kéo dài khoảng thời gian giữa các lần siêu âm tùy theo nguyện vọng của bệnh nhân và đánh giá lâm sàng, vì khuyến cáo này không dựa trên dữ liệu đặc thù cho hội chứng ZIKV bẩm sinh. (Xem thêm ‘Thời điểm’ ở dưới.)
Mặc dù các phát hiện bất thường đặc trưng trên siêu âm tiền sản có liên quan đến kết cục sơ sinh xấu, nhưng kết quả siêu âm tiền sản bình thường không nhất thiết dự báo kết cục sơ sinh sẽ bình thường. (Xem thêm ‘Siêu âm thai’ ở dưới.)
Chẩn đoán ở thai nhi – Chúng tôi đề xuất chỉ định chọc ối cho những bệnh nhân có hình ảnh siêu âm thai gợi ý hội chứng ZIKV bẩm sinh và/hoặc kết quả xét nghiệm ZIKV ở mẹ dương tính hoặc không rõ ràng, khi thông tin này ảnh hưởng đến quyết định đình chỉ thai nghén hoặc quản lý thai kỳ và sinh con. Xét nghiệm real-time RT-PCR ZIKV trong dịch ối có giá trị chẩn đoán thai nhi có tiếp xúc với virus nhưng không dự báo được kết cục của trẻ, và kết quả âm tính cũng không loại trừ hoàn toàn khả năng thai nhi nhiễm trùng. (Xem thêm ‘Chẩn đoán tiền sản (thai nhi)’ ở dưới.)
Phòng ngừa nhiễm trùng ở người mẹ
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho nhiễm ZIKV và cũng chưa có vắc-xin phòng ngừa. Nam giới mới nhiễm hoặc tiếp xúc với ZIKV nên chờ ít nhất 3 tháng kể từ khi khởi phát triệu chứng/tiếp xúc trước khi cố gắng thụ thai với bạn đời; phụ nữ mới nhiễm hoặc tiếp xúc nên chờ ít nhất 2 tháng kể từ khi khởi phát triệu chứng/tiếp xúc trước khi thụ thai. (Xem thêm ‘Phòng ngừa’ ở dưới.)
Để bảo vệ khỏi nhiễm ZIKV, phụ nữ mang thai nên thực hiện các biện pháp sau (xem ‘Hướng dẫn cho bệnh nhân mang thai’ ở dưới):
- Tránh di chuyển đến những vùng có ghi nhận sự lây truyền ZIKV qua muỗi
- Tuân thủ các biện pháp phòng chống muỗi đốt
- Tuân thủ các biện pháp phòng ngừa lây truyền ZIKV qua đường tình dục
- Tuân thủ các khuyến cáo về hiến máu
- Tuân thủ các khuyến cáo về phòng ngừa nhiễm khuẩn chuẩn
Nuôi con bằng sữa mẹ – Những người có tiền sử tiếp xúc với ZIKV vẫn có thể cho con bú. Việc lây truyền ZIKV qua sữa mẹ chưa được ghi nhận, mặc dù virus đã được phát hiện trong sữa mẹ. (Xem thêm ‘Nuôi con bằng sữa mẹ’ ở dưới.)