TÓM TẮT
Đối tượng điều trị và cơ sở lý luận
Chúng tôi điều trị cho tất cả các trường hợp có triệu chứng đã xác định nhiễm khuẩn âm đạo (BV) nhằm giảm nhẹ các triệu chứng (điển hình là khí hư và mùi hôi). Chúng tôi cũng điều trị cho những bệnh nhân xác định nhiễm BV sắp thực hiện các thủ thuật phụ khoa can thiệp vào âm đạo, bất kể có triệu chứng hay không, để giảm nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật. Thông thường, những trường hợp không có triệu chứng khác sẽ không được điều trị vì nhiễm BV có khả năng tự giới hạn và việc điều trị bằng kháng sinh có thể dẫn đến nhiễm nấm âm đạo có triệu chứng. (Xem thêm ‘Cơ sở lý luận của việc điều trị’ ở dưới.)
Bệnh nhân có triệu chứng
Người không mang thai – Đối với người không mang thai có triệu chứng BV đã xác định, chúng tôi đề nghị điều trị nhiều ngày bằng metronidazole hoặc clindamycin thay vì các kháng sinh khác (phác đồ 1) (Khuyến cáo 2C). Vì hiệu quả của phác đồ uống hoặc đặt âm đạo đối với cả metronidazole và clindamycin là tương đương, việc lựa chọn đường dùng sẽ tùy thuộc vào sở thích của bệnh nhân, sự sẵn có của thuốc và chi phí. Việc điều trị cho bệnh nhân có âm đạo tạo hình (neovagina) và/hoặc nhiễm HIV cũng tương tự. (Xem thêm ‘Các phác đồ điều trị ưu tiên’ ở dưới.)
Các phác đồ điều trị ưu tiên bao gồm:
- Metronidazole 500 mg, uống 2 lần/ngày trong 7 ngày.
- Hoặc: Metronidazole gel 0,75% (5 g chứa 37,5 mg metronidazole), đặt âm đạo 1 lần/ngày trong 5 ngày.
- Hoặc: Clindamycin kem bôi âm đạo 2%, bôi 1 lần/ngày trước khi đi ngủ trong 7 ngày. Lưu ý: Không sử dụng bao cao su latex trong thời gian điều trị bằng kem clindamycin.
Phác đồ thay thế – Tinidazole và secnidazole đường uống cho thấy hiệu quả tương đương với metronidazole đường uống và có liều dùng thuận tiện hơn. Tuy nhiên, do chi phí thường cao hơn và khó tìm mua hơn, chúng được xem là các lựa chọn thay thế cho các phương pháp điều trị trên. (Xem thêm ‘Liệu pháp thay thế’ ở dưới.)
Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú – Đối với bệnh nhân mang thai hoặc cho con bú có triệu chứng BV, chúng tôi đề nghị sử dụng metronidazole hoặc clindamycin đường uống thay vì các dạng thuốc đặt âm đạo (phác đồ 1) (Khuyến cáo 2C). Tác giả và các chuyên gia khác ưu tiên liệu pháp đường uống cho phụ nữ mang thai vì một số dữ liệu cho thấy điều trị đường uống hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng đường sinh dục trên. Việc điều trị cho người đang cho con bú cũng tương tự như phụ nữ mang thai, nhưng ưu tiên dùng metronidazole vì clindamycin có liên quan đến các triệu chứng tiêu hóa ở trẻ sơ sinh. (Xem thêm ‘Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú’ ở dưới.)
- Metronidazole 500 mg, uống 2 lần/ngày trong 7 ngày (ưu tiên cho người cho con bú).
- Hoặc: Clindamycin 300 mg, uống 2 lần/ngày trong 7 ngày.
Phẫu thuật phụ khoa theo kế hoạch – Đối với những người sắp thực hiện các thủ thuật phụ khoa can thiệp vào âm đạo, chúng tôi đề nghị xét nghiệm và điều trị BV nếu kết quả xác định dương tính, thay vì chỉ theo dõi, ngay cả khi không có triệu chứng (Khuyến cáo 2C). Điều trị tiền phẫu giúp làm giảm tần suất các biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật. (Xem thêm ‘Những người thực hiện thủ thuật phụ khoa’ ở dưới.)
Người không có triệu chứng – Đối với những người không có triệu chứng, chúng tôi đề nghị theo dõi thay vì điều trị bằng kháng sinh (Khuyến cáo 2C), trừ khi họ sắp phẫu thuật phụ khoa. Việc điều trị thường được tránh vì bệnh nhân thường tự cải thiện sau vài tháng và bất kỳ liệu pháp kháng khuẩn nào cũng thường dẫn đến nhiễm nấm âm đạo có triệu chứng. Ngoại lệ là những bệnh nhân phẫu thuật phụ khoa sẽ được điều trị bất kể có triệu chứng hay không. (Xem thêm ‘Người không mang thai, không triệu chứng’ ở dưới.)
Đối với phụ nữ mang thai không có triệu chứng, chúng tôi đề nghị không tầm soát hoặc điều trị BV (Khuyến cáo 2C). Không có bằng chứng nhất quán cho thấy việc tầm soát và điều trị nhiễm trùng không triệu chứng trong thai kỳ làm giảm nguy cơ sinh non. (Xem thêm ‘Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú’ ở dưới.)
Quản lý bạn tình
Nam giới – Đối với bạn tình nam của những người xác định nhiễm BV, chúng tôi đề nghị điều trị đồng thời bằng hai loại kháng sinh thay vì không điều trị hoặc chỉ điều trị bằng một loại thuốc (Khuyến cáo 2C). Việc điều trị kết hợp hai thuốc cho bạn tình nam đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tái nhiễm ở bệnh nhân nữ so với việc chỉ điều trị cho bệnh nhân nữ theo tiêu chuẩn. Liệu pháp kháng sinh kép cho bạn tình bao gồm: metronidazole 400 mg hoặc 500 mg đường uống (tùy theo sự sẵn có) và kem clindamycin 2% bôi vùng da dương vật, cả hai đều dùng 2 lần/ngày trong 7 ngày. Phương pháp điều trị kết hợp đường uống và bôi tại chỗ cho bạn tình được dung nạp tốt. Chúng tôi không chỉ định đơn trị liệu đường uống cho bạn tình nam vì phương pháp này không làm giảm nguy cơ tái phát BV. Chúng tôi cũng hướng dẫn các cặp đôi sử dụng bao cao su thường xuyên để giảm tái nhiễm. (Xem thêm ‘Nam giới’ ở dưới.)
Nữ giới – Bạn tình nữ của một bệnh nhân xác định nhiễm BV cần được hướng dẫn về các dấu hiệu và triệu chứng của BV, do nguy cơ cùng nhiễm bệnh ở các cặp đôi nữ là rất cao (từ 25% đến 50%). (Xem thêm ‘Nữ giới’ ở dưới.)
Tái phát triệu chứng – Khoảng 30% bệnh nhân đáp ứng ban đầu với điều trị sẽ tái phát triệu chứng trong vòng 3 tháng và gần 60% tái phát trong vòng 12 tháng. Khi có tái phát triệu chứng, chúng tôi điều trị bằng một loại kháng sinh khác với loại đã dùng cho đợt đầu tiên nếu có thể. (Xem thêm ‘Triệu chứng dai dẳng hoặc tái phát’ ở dưới.)
Những người có từ 3 đợt nhiễm BV trở lên trong một năm được định nghĩa là nhiễm BV tái phát. (Xem thêm “Viêm âm đạo do vi khuẩn: Nhiễm trùng tái phát”.)