Trầm cảm nặng đơn cực: Thực hiện kích thích từ trường xuyên sọ (TMS)

TÓM TẮT

Chỉ định kích thích từ trường xuyên sọ (TMS) – Những bệnh nhân trầm cảm đơn cực nặng không đáp ứng với các liệu pháp điều trị chuẩn bằng thuốc và tâm lý trị liệu là đối tượng phù hợp để áp dụng các thủ thuật điều biến thần kinh không xâm lấn, bao gồm cả kỹ thuật TMS lặp lại (rTMS). (Xem “Trầm cảm đơn cực ở người trưởng thành: Chỉ định, hiệu quả và tính an toàn của kích thích từ trường xuyên sọ (TMS)”.)

Tổng quan – TMS điều biến hoạt động của các vùng vỏ não và các mạch thần kinh liên quan bằng cách truyền dòng điện xoay chiều qua một cuộn dây kim loại đặt sát da đầu để tạo ra từ trường xoay chiều nhanh. Từ trường này xuyên qua xương sọ và tạo ra các dòng điện gây khử cực neuron tại một vùng khu trú trên bề mặt vỏ não; một số thiết bị TMS còn có khả năng kích thích các cấu trúc não sâu hơn. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)

Đánh giá trước điều trị – Trước khi chỉ định TMS, lâm sàng cần đánh giá bệnh nhân để:

  • Xác nhận chẩn đoán chính là trầm cảm kháng trị và đánh giá liệu can thiệp này có an toàn cho bệnh nhân hay không (bảng 2).
  • Quá trình đánh giá bao gồm khai thác tiền sử tâm thần và khám trạng thái tâm thần, tập trung vào các triệu chứng trầm cảm (bảng 1), cũng như loại hình và số lượng các phương pháp điều trị đã thất bại trong giai đoạn bệnh hiện tại.
  • Cần đánh giá tình trạng sử dụng rượu hiện tại và nguy cơ hội chứng cai, cũng như việc sử dụng các chất khác có khả năng gây co giật. Ngoài ra, cần khai thác tiền sử bệnh lý tổng quát và thực hiện khám lâm sàng sàng lọc.
  • Việc thăm khám tổng quát cần chú trọng vào các yếu tố nguy cơ gây co giật và các bệnh lý thần kinh tiền sử (bảng 2). (Xem ‘Đánh giá trước điều trị’ ở dưới.)

Các loại hình kích thích tiêu chuẩn – Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt các thiết bị TMS có thể thực hiện nhiều loại kích thích khác nhau, bao gồm kích thích vỏ não bề mặt, kích thích sâu và kích thích xung Theta (theta burst stimulation).

  • Kích thích vỏ não bề mặt (surface cortical TMS) là hình thức phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhất.
  • Thiết bị TMS sâu (Deep TMS) về lý thuyết có khả năng kích thích cả các cấu trúc não nằm dưới vỏ não trước trán nông cũng như các cấu trúc vỏ não bề mặt.
  • TMS xung Theta sử dụng các xung từ trường nhằm mô phỏng nhịp theta nội sinh.
(Xem ‘Các kỹ thuật tiêu chuẩn’, ‘TMS vỏ não bề mặt’, ‘TMS sâu’‘TMS xung Theta’ ở dưới.)

Thông số kích thích – TMS lặp lại được thực hiện dưới dạng một chuỗi các xung gọi là một “train”. Các thông số kích thích bao gồm: tần số, cường độ, thời lượng một train, khoảng cách giữa các train và số lượng train trong mỗi phiên điều trị. (Xem ‘Các thông số điều trị’ ở dưới.)

Vị trí kích thích – TMS thường nhắm mục tiêu vào vùng vỏ não trước trán lưng bên trái. (Xem ‘Vị trí kích thích’ ở dưới.)

Phác đồ điều trị cấp tính – Đối với điều trị cấp tính trầm cảm đơn cực nặng, TMS thường được thực hiện vào các ngày trong tuần, kéo dài từ 4 đến 6 tuần. (Xem ‘Điều trị cấp tính’ ở dưới.)

TMS duy trì – TMS duy trì thường sử dụng cùng các thông số kích thích như trong giai đoạn điều trị cấp tính, trừ khi xuất hiện các tác dụng phụ. Tần suất thực hiện các phiên TMS duy trì hiện vẫn chưa được chuẩn hóa. (Xem ‘Điều trị duy trì’ ở dưới.)

Các loại hình kích thích thực nghiệm – Các kỹ thuật TMS đang trong giai đoạn nghiên cứu bao gồm phác đồ tăng tốc (nhiều phiên điều trị trong một ngày), kích thích liều cao và kích thích hai bên. (Xem ‘Các kỹ thuật thực nghiệm’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here