TÓM TẮT
Tổng quan về điều trị – Ghẻ là một bệnh nhiễm ký sinh trùng ngoài da phổ biến do ve Sarcoptes scabiei gây ra. Việc quản lý bệnh bao gồm:
- Loại bỏ ký sinh trùng
- Kiểm soát tình trạng ngứa
- Xử lý các biến chứng
- Điều trị cho những người tiếp xúc gần
- Triển khai các biện pháp vệ sinh môi trường để giảm thiểu khả năng lây truyền và tái nhiễm (xem ‘Giới thiệu’ ở dưới)
Tổng quan về các liệu pháp điều trị ghẻ – Ghẻ có thể được điều trị bằng các liệu pháp tại chỗ hoặc đường uống. Các lựa chọn chính cho điều trị tại chỗ bao gồm permethrin (ưu tiên), benzyl benzoate, lưu huỳnh kết tủa, spinosad và ivermectin. Lindane hiện không còn được ưa chuộng do nguy cơ gây độc tính toàn thân. Ivermectin đường uống được dùng để điều trị hệ thống. (Xem ‘Các lựa chọn điều trị’ ở dưới.)
Điều trị ghẻ điển hình – Ghẻ điển hình, thể lâm sàng phổ biến nhất, có thể được điều trị bằng liệu pháp tại chỗ hoặc đường uống (Hình 1, Hình 2A-E và Sơ đồ 1).
Đối với bệnh nhân ghẻ điển hình, chúng tôi đề nghị sử dụng permethrin tại chỗ cho điều trị ban đầu thay vì dùng benzyl benzoate, lưu huỳnh, crotamiton, malathion hoặc lindane, dựa trên các dữ liệu cho thấy permethrin có hiệu quả cao hơn (Khuyến cáo 2B). Hiệu quả và độ an toàn cao là cơ sở để ưu tiên sử dụng permethrin.
Ivermectin đường uống là lựa chọn thay thế cho điều trị ban đầu ở người lớn không mang thai, những người ưu tiên điều trị đường uống, không dung nạp permethrin hoặc không thể bôi thuốc tại chỗ. Spinosad và ivermectin tại chỗ là các lựa chọn bổ sung cho liệu pháp tại chỗ nhưng chưa được chứng minh là ưu việt hơn permethrin. (Xem ‘Ghẻ điển hình’ ở dưới.)
Điều trị ghẻ vảy (ghẻ Na Uy) – Đối với bệnh nhân ghẻ vảy (Hình 3A-E), chúng tôi đề nghị phối hợp liệu pháp permethrin và ivermectin thay vì dùng đơn độc một loại thuốc (Khuyến cáo 2C). Thời gian điều trị tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm ký sinh trùng. (Xem ‘Ghẻ vảy’ ở dưới.)
Nhận biết khỏi bệnh và thất bại điều trị – Dấu hiệu điều trị thành công bao gồm việc hết các tổn thương da hoạt động và hết ngứa về đêm sau một tuần hoàn tất điều trị (Sơ đồ 1). Tuy nhiên, tình trạng ngứa thường vẫn kéo dài đến bốn tuần sau khi điều trị thành công. Các nguyên nhân gây ngứa kéo dài sau thời gian này bao gồm thất bại điều trị, kích ứng da do thuốc hoặc viêm da tiếp xúc, tái nhiễm và chẩn đoán nhầm. (Xem ‘Nhận biết khỏi bệnh và thất bại điều trị’ ở dưới.)
Người tiếp xúc gần – Các triệu chứng có thể khởi phát muộn vài tuần sau khi nhiễm. Do đó, những cá nhân không có triệu chứng nhưng có tiếp xúc gần với bệnh nhân ghẻ điển hình vẫn có thể đang nhiễm ghẻ. Bệnh nhân đã xác định mắc ghẻ và những người tiếp xúc gần nên được điều trị đồng thời. (Xem ‘Tiếp xúc và môi trường’ và ‘Môi trường cộng đồng’ ở dưới.)
Biện pháp vệ sinh môi trường – Ve ghẻ thường không thể tồn tại quá hai đến ba ngày khi tách khỏi da người. Quần áo hoặc đồ dùng phòng ngủ được người bệnh sử dụng trong vòng ba ngày trước đó nên được giặt bằng máy với nước nóng và sấy khô bằng chu kỳ nhiệt. Một phương án thay thế là giặt khô hoặc để các đồ dùng này không tiếp xúc với cơ thể trong ít nhất 72 giờ. Phòng ngủ của bệnh nhân ghẻ vảy cần được làm sạch và hút bụi. (Xem ‘Tiếp xúc và môi trường’ và ‘Môi trường cộng đồng’ ở dưới.)
Ghẻ trong môi trường tập thể – Sự xuất hiện của bệnh ghẻ trong các cơ sở tập thể cần được xử lý kịp thời để giảm thiểu nguy cơ lây lan cho những người khác. Phản ứng nhanh là đặc biệt quan trọng trong trường hợp ghẻ vảy. (Xem ‘Môi trường tập thể’ ở dưới.)