Các bệnh tự viêm trung gian qua các inflammasome và các cytokine họ IL-1 liên quan

TÓM TẮT

Định nghĩa – Bệnh tự viêm là một nhóm các rối loạn đặc trưng bởi sự kích hoạt bất thường của các con đường viêm mà không có sự hiện diện của phản ứng tự miễn hướng kháng nguyên. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Cơ chế bệnh sinh – Các bệnh tự viêm do các biến thể gây bệnh ảnh hưởng đến thể viêm (inflammasome) được gọi là các bệnh lý thể viêm (inflammasomopathies). Thể viêm là một phức hợp protein nội bào chịu trách nhiệm kích hoạt phân cắt interleukin (IL) 1-beta, IL-18 và protein tạo lỗ gasdermin D (hình 1). Có ít nhất sáu thể viêm chính quy (canonical), được xác định bởi protein khung chịu trách nhiệm lắp ráp, bao gồm: pyrin, cryopyrin (thụ thể giống miền oligomer hóa gắn nucleotide, chứa miền tuyển dụng caspase [NLRC] 3), NLRC4, thụ thể giống miền oligomer hóa gắn nucleotide chứa miền pyrin (NLRP) 1, NLRP12 và AIM2 (absent in melanoma 2). Ngoại trừ AIM2, các biến thể gây bệnh ở tất cả các protein này đều được chứng minh là nguyên nhân gây ra bệnh tự viêm ở người. (Xem ‘Tổng quan về thể viêm’ ở dưới.)

Phân loại bệnh lý thể viêm – Các bệnh lý thể viêm phổ biến nhất bao gồm:

  • Sốt Địa Trung Hải gia đình (FMF) do đột biến pyrin.
  • Các hội chứng chu kỳ liên quan đến cryopyrin (CAPS; bao gồm hội chứng tự viêm lạnh gia đình [FCAS], hội chứng Muckle-Wells [MWS] và bệnh viêm đa hệ thống khởi phát sơ sinh [NOMID]) do đột biến NLRP3. (Xem ‘Thể viêm pyrin’‘Thể viêm cryopyrin’ ở dưới.)

Các bệnh lý khác liên quan đến hoạt tính quá mức của các cytokine họ IL-1 bao gồm thiếu hụt IL-1RA và thiếu hụt chất đối vận thụ thể IL-36 (DІRA và DІTRA). (Xem ‘Các bệnh liên quan đến các protein họ IL-1 khác’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Cần nghi ngờ bệnh tự viêm qua trung gian thể viêm khi bệnh nhân có các đợt viêm tái phát kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm mà không tìm thấy nguyên nhân khác. Đa số bệnh nhân khởi phát triệu chứng trong thời thơ ấu. Các biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm sốt, phát ban dạng mày, viêm màng não, tăng trưởng quá mức của xương và viêm ruột kết. Các rối loạn liên quan đến thể viêm NLRP1 thường biểu hiện tổn thương khu trú ở da. Xét nghiệm di truyền thường được chỉ định để xác nhận chẩn đoán lâm sàng. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm các tình trạng nhiễm trùng hiếm gặp như sốt tái phát, bệnh lý ác tính, giảm bạch cầu trung tính chu kỳ, bệnh viêm ruột (ІBD), viêm khớp thiếu niên hệ thống (sJIA)/bệnh Still khởi phát ở người lớn (AOSD) và hội chứng thực bào máu (HԼΗ). Hội chứng sốt chu kỳ kèm viêm miệng Aphthous, viêm họng và viêm hạch (PFAPA) là một hội chứng sốt tái phát không rõ nguyên nhân thường gặp ở trẻ em. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Điều trị – Điều trị các bệnh lý thể viêm thay đổi tùy theo nguyên nhân, có thể bao gồm colchicine, thuốc ức chế IL-1, thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và glucocorticoids. Phương pháp ức chế IL-18 hiện vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here