TÓM TẮT
Dịch tễ học – Yếu tố nguy cơ chính dẫn đến viêm động mạch tế bào khổng lồ (“giant cell arteritis” – GCA, còn được gọi là bệnh Horton, viêm động mạch sọ và viêm động mạch thái dương) là sự lão hóa. Bệnh gần như không xuất hiện trước 50 tuổi và tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo độ tuổi sau đó. Mặc dù các biểu hiện toàn thân là đặc trưng của GCA và tình trạng viêm mạch có thể lan rộng, các biểu hiện lâm sàng của bệnh thường xuất phát từ việc tổn thương các nhánh sọ của những động mạch xuất phát từ cung động mạch chủ. Biến chứng nguy hiểm nhất của GCA, tình trạng mất thị lực, là một hệ quả tiềm tàng từ kiểu hình chính của bệnh, đó là viêm động mạch sọ. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng và mối liên quan với viêm đa cơ thấp – Khởi phát triệu chứng trong GCA thường có diễn tiến bán cấp, nhưng một số bệnh nhân có thể khởi phát đột ngột. Khi khai thác bệnh sử, bác sĩ lâm sàng cần hỏi về các loại triệu chứng sau: triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi và sụt cân; đau đầu; đau cách hồi hàm (triệu chứng dự báo giá trị nhất cho kết quả sinh thiết động mạch thái dương dương tính trong chẩn đoán GCA); các triệu chứng về thị giác, đặc biệt là mất thị lực một mắt thoáng qua (TMVL hay amaurosis fugax) và song thị; cùng các triệu chứng của viêm đa cơ thấp (PMR). Các triệu chứng khác cũng có thể xuất hiện. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới và ‘Mối liên quan với viêm đa cơ thấp’ ở dưới.)
Tổn thương mắt – Nhiều hội chứng nhãn khoa có liên quan đến GCA. Phổ biến nhất là TMVL và bệnh lý thần kinh thị giác do thiếu máu cục bộ trước (AION). Ước tính tình trạng mù lòa hai bên sẽ phát triển ở 25 đến 50% bệnh nhân không được điều trị có biểu hiện mất thị lực ở một mắt. (Xem ‘Mất thị lực vĩnh viễn’ ở dưới.)
Tổn thương mạch máu lớn – Tổn thương cận lâm sàng của động mạch chủ và các động mạch lớn thường xuyên xảy ra, hệ quả lâm sàng muộn của tình trạng này có thể là phình động mạch chủ. (Xem ‘Tổn thương mạch máu lớn’ ở dưới.)
Các phát hiện khi khám thực thể – Việc sờ nắn kỹ động mạch thái dương, đo huyết áp ở cả hai cánh tay và đánh giá hệ thống động mạch bằng cách sờ và nghe nên được thực hiện trên tất cả bệnh nhân nghi ngờ mắc GCA. (Xem ‘Các phát hiện khi khám thực thể’ ở dưới.)
Kết quả xét nghiệm – Các xét nghiệm hữu ích trong việc đánh giá GCA bao gồm xét nghiệm huyết học thường quy, một số xét nghiệm hóa sinh huyết thanh, tốc độ máu lắng (\text{ESR}) và protein phản ứng C (\text{CRP}). (Xem ‘Kết quả xét nghiệm’ ở dưới.)