TÓM TẮT
-
Tế bào nguồn gốc và đặc điểm đột biến của ung thư biểu mô tế bào vảy ở da
Tế bào sừng (keratinocyte) là tế bào nguồn gốc của ung thư biểu mô tế bào vảy ở da (sSCC). Các tế bào này rất nhạy cảm với những tổn thương DNA do tia cực tím (UV), cũng như các tác nhân tiếp xúc khác bao gồm bức xạ ion hóa, human papillomavirus (HPV) và các hóa chất.
Đặc điểm đột biến của sSCC bị chi phối bởi một số lượng lớn các đột biến, trong đó chiếm ưu thế là các đột biến chuyển đổi từ cytidine sang thymidine liên quan đến quá trình sửa chữa tổn thương DNA do tia cực tím B (UVB). Các gen và con đường tín hiệu then chốt tham gia vào quá trình sinh ung thư sSCC bao gồm TP53, NOTCH, FAT1 và CDKN2A (bảng 1). Con đường tín hiệu extracellular signal-regulated kinase (ERK) dường như cũng là một cơ chế quan trọng bổ sung trong bệnh sinh của sSCC.
(Xem thêm ‘Tế bào nguồn gốc’, ‘Đặc điểm đột biến và tác động của việc tiếp xúc tia cực tím’ và ‘Các gen và con đường tín hiệu then chốt’ ở dưới.)
-
Vai trò của human papillomavirus
Các chủng human papillomavirus (HPV) chiếm ưu thế trên da là nhóm beta-HPV, có hoạt tính oncoprotein tương tự như alpha-HPV (loại virus liên quan đến sinh ung thư trong hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung). HPV có thể thúc đẩy quá trình tạo u thông qua cơ chế “hit and run” (tác động rồi rời đi), theo đó virus đóng vai trò đồng gây ung thư ở giai đoạn sớm mà không tích hợp bộ gen của nó vào tế bào u.
Dữ liệu từ các hệ thống thực nghiệm cho thấy sự hiện diện của beta-HPV như những vi sinh vật cộng sinh trên da sẽ kích thích đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào T, giúp bảo vệ cơ thể chống lại sự phát triển của ung thư da.
(Xem thêm ‘Vai trò của human papillomavirus’ ở dưới.)
-
Ý nghĩa đối với điều trị và dự phòng
Những hiểu biết về cơ chế bệnh sinh phân tử có thể dẫn đến các phương pháp tiếp cận điều trị đích dựa trên các yếu tố thúc đẩy đột biến, biểu gen (epigenetic) và phiên mã.
(Xem thêm ‘Ý nghĩa đối với điều trị và dự phòng’ ở dưới và “Điều trị hệ thống ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tế bào vảy ở da giai đoạn tiến triển”, mục ‘Đối tượng phù hợp cho liệu pháp miễn dịch’.)