Các kỹ thuật triệt mạch không dùng nhiệt và không dùng dung dịch gây phồng để điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới

TÓM TẮT

Triệt đốt không nhiệt, không gây tê gây phồng – Triệt đốt không nhiệt, không gây tê gây phồng là các kỹ thuật nhằm đóng các tĩnh mạch trục hoặc tĩnh mạch xuyên bằng cách sử dụng chất gây xơ, keo sinh học hoặc các phương pháp cơ học thay vì sử dụng năng lượng nhiệt. Các phương pháp này không yêu cầu thâm nhiễm thuốc tê gây phồng.

  • Liệu pháp gây xơ sử dụng chất gây xơ (bảng 2) dạng lỏng hoặc dạng bọt (do bác sĩ pha chế hoặc chế phẩm thương mại) tiêm vào lòng tĩnh mạch, gây tổn thương nội mạc và tạo huyết khối. Đối với điều trị các tĩnh mạch lớn (≥6 mm), dạng bọt có hiệu quả hơn trong việc đẩy thể tích máu lớn. Quá trình tiêm được thực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm. (Xem mục ‘Liệu pháp gây xơ’ ở dưới.)

  • Triệt đốt cơ học – hóa học sử dụng một dây dẫn để gây kích thích nội mạc thành tĩnh mạch, đồng thời tiêm chất gây xơ. (Xem mục ‘Triệt đốt cơ học – hóa học’ ở dưới.)

  • Đóng tĩnh mạch bằng keo Cyanoacrylate (CAC) đưa keo vào lòng tĩnh mạch để làm đóng mạch mà không cần băng ép sau thủ thuật. (Xem mục ‘Đóng tĩnh mạch bằng keo Cyanoacrylate’ ở dưới.)

Chỉ định và chống chỉ định – Các kỹ thuật triệt đốt không nhiệt, không gây tê gây phồng có thể được dùng để đóng tĩnh mạch trục (ví dụ: tĩnh mạch hiển lớn, tĩnh mạch hiển nhỏ) hoặc đóng tĩnh mạch xuyên cho những bệnh nhân có bằng chứng trào ngược (tức là dòng chảy ngược >0,5 giây ở tĩnh mạch nông hoặc tĩnh mạch xuyên) là nguyên nhân gây triệu chứng, hoặc đối với loét tĩnh mạch.

Không nên thực hiện triệt đốt không nhiệt ở bệnh nhân có dấu hiệu huyết khối tĩnh mạch cấp tính (tĩnh mạch nông, tĩnh mạch sâu) hoặc trong thời kỳ mang thai. Các trường hợp quá mẫn đặc hiệu hoặc nguy cơ phản ứng có hại có thể là chống chỉ định đối với một số kỹ thuật cụ thể. (Xem mục ‘Chỉ định’, ‘Chống chỉ định’‘Biến chứng’ ở dưới.)

Triệt đốt tĩnh mạch hiển – Khi lựa chọn liệu pháp gây xơ để điều trị các tĩnh mạch trục (ví dụ: tĩnh mạch hiển lớn, hiển nhỏ, hiển trước (hình 1A-B)), chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp gây xơ dạng bọt dưới hướng dẫn của siêu âm thay vì liệu pháp gây xơ dạng lỏng (Khuyến cáo 2B). Liệu pháp gây xơ dạng bọt có tỷ lệ thành công ban đầu cao hơn so với dạng lỏng. Mặc dù tỷ lệ đóng mạch của liệu pháp gây xơ nhìn chung thấp hơn so với các phương pháp triệt đốt bằng nhiệt hoặc phẫu thuật, nhưng sự xuất hiện của các triệu chứng không nhất thiết tương quan với tình trạng tái thông hoặc tái phát tĩnh mạch. (Xem mục ‘Triệt đốt tĩnh mạch hiển’ ở dưới.)

Triệt đốt tĩnh mạch xuyên – Trào ngược ở các tĩnh mạch xuyên sau khi triệt đốt tĩnh mạch hiển là một yếu tố nguy cơ dẫn đến tái phát tĩnh mạch hoặc khiến vết loét tĩnh mạch không lành hoặc tái phát. Hiện chưa có kỹ thuật tối ưu cho triệt đốt tĩnh mạch xuyên không nhiệt. Bệnh nhân thường cần phải điều trị nhiều lần. (Xem mục ‘Triệt đốt tĩnh mạch xuyên’ ở dưới.)

Băng ép sau thủ thuật – Băng ép sau thủ thuật thường được khuyến cáo sau liệu pháp gây xơ nhưng không bắt buộc đối với kỹ thuật CAC. (Xem mục ‘Chăm sóc và theo dõi sau thủ thuật’ ở dưới.)

Biến chứng – Các biến chứng liên quan đến kỹ thuật triệt đốt không nhiệt bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu (mọi phương pháp), các biến cố huyết khối liên quan đến triệt đốt (ARTE) (đối với CAC và dạng bọt), quá mẫn (CAC), sốc phản vệ (liệu pháp gây xơ), và các biến cố thuyên tắc vi mạch, chủ yếu xảy ra khi sử dụng bọt do bác sĩ pha chế bằng khí phòng cho liệu pháp gây xơ. (Xem mục ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here