Rối loạn lưỡng cực ở người lớn và Lithium: Dược lý, cách dùng và xử trí các tác dụng bất lợi

TÓM TẮT

Chỉ định của lithium trong rối loạn lưỡng cực – Lithium là một trong nhiều lựa chọn thuốc để điều trị hưng cảm cấp, hưng cảm nhẹ và trầm cảm lưỡng cực, đồng thời là lựa chọn tiềm năng cho điều trị duy trì rối loạn lưỡng cực. Ngoài ra, lithium có thể làm giảm nguy cơ tự sát. (Xem “Hưng cảm và hưng cảm nhẹ trong rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Lựa chọn liệu pháp dược lý”“Trầm cảm chủ yếu trong rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Lựa chọn điều trị”“Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Lựa chọn điều trị duy trì”.)

Dược động học – Lithium được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được sau 1 đến 2 giờ với các chế phẩm giải phóng tức thời và trong vòng 4 đến 5 giờ với các chế phẩm giải phóng chậm. Lithium phân bố trong toàn bộ nước của cơ thể. Trạng thái ổn định đạt được trong vòng 4 đến 5 ngày sau lần thay đổi liều cuối cùng. Lithium được thải trừ hầu như hoàn toàn qua thận. Thời gian bán thải khoảng 24 giờ ở bệnh nhân trẻ khỏe mạnh và tăng dần khi chức năng thận suy giảm theo tuổi tác. (Xem ‘Dược động học’ ở dưới.)

Chống chỉ định – Lithium chống chỉ định cho bệnh nhân suy giảm chức năng thận nghiêm trọng, giảm natri máu, mất nước và bệnh tim mạch nặng. (Xem ‘Chống chỉ định’ ở dưới.)

Liều dùng – Liều khởi đầu của lithium thường là 300 mg, uống 2 hoặc 3 lần mỗi ngày. Liều dùng nên được tăng thêm 300 đến 600 mg mỗi 1 đến 5 ngày tùy theo đáp ứng, khả năng dung nạp và chỉ số khối cơ thể (BMI). Mục tiêu là đạt được nồng độ huyết thanh điều trị, thường đạt được với liều từ 900 mg đến 1800 mg mỗi ngày. Việc tăng liều thường diễn ra thường xuyên hơn ở giai đoạn đầu điều trị và ít thường xuyên hơn khi tiến gần đến liều mục tiêu. (Xem ‘Liều lithium và nồng độ trong huyết thanh’ ở dưới.)

Nồng độ huyết thanh mục tiêu – Nồng độ huyết thanh mục tiêu cho giai đoạn điều trị cấp và điều trị duy trì thường nằm trong khoảng 0,8 đến 1,2 mEq/L (0,8 đến 1,2 mmol/L). Những bệnh nhân không dung nạp được nồng độ 0,8 mEq/L (0,8 mmol/L) có thể đáp ứng với nồng độ 0,6 mEq/L (0,6 mmol/L). (Xem ‘Liều lithium và nồng độ trong huyết thanh’ ở dưới.)

Theo dõi nồng độ huyết thanh – Nồng độ thuốc thường được đo từ 5 đến 7 ngày sau mỗi lần tăng liều. Ngoài ra, cần kiểm tra nồng độ lithium nếu cân nhắc tăng liều mà nồng độ chưa được đo trong vòng hai tuần trước đó. Bệnh nhân dùng liều ổn định nên được kiểm tra nồng độ mỗi 6 đến 12 tháng. Mẫu máu đo nồng độ lithium nên được lấy 12 giờ sau liều cuối cùng (nồng độ đáy 12 giờ) và thường được thu thập vào buổi sáng, trước liều đầu tiên trong ngày. (Xem ‘Liều lithium và nồng độ trong huyết thanh’‘Xét nghiệm và theo dõi’ ở dưới.)

Ngộ độc lithium – Nồng độ lithium quá cao có thể dẫn đến ngộ độc với các tác dụng phụ nghiêm trọng và rối loạn đa cơ quan, có thể gây tử vong nếu không được phát hiện kịp thời. Ngộ độc lithium là một chẩn đoán lâm sàng và được xác nhận bằng nồng độ lithium trong huyết thanh. Ngộ độc mức độ nhẹ thường không xảy ra cho đến khi nồng độ lithium trong huyết thanh đạt mức 1,5 mEq/L (1,5 mmol/L). Nồng độ ≥ 2,5 mEq/L (2,5 mmol/L) được coi là một cấp cứu y khoa, ngay cả ở những bệnh nhân có vẻ không có triệu chứng. (Xem ‘Độc tính của lithium’ ở dưới và “Ngộ độc lithium”.)

Tương tác thuốc – Nhiều loại thuốc có thể làm thay đổi nồng độ lithium. Ví dụ, nồng độ lithium tăng lên khi dùng thuốc lợi tiểu thiazide và các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), ngoại trừ aspirin. Nồng độ lithium giảm khi dùng thuốc lợi tiểu giữ kali và theophylline. (Xem ‘Tương tác thuốc với lithium’ ở dưới.)

Xét nghiệm cận lâm sàng trước và trong khi điều trị lithium – Trước khi bắt đầu điều trị lithium, lâm sàng nên chỉ định xét nghiệm nước tiểu, nitơ urê máu (BUN), creatinine, chức năng tuyến giáp, canxi và thử thai đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ; đối với bệnh nhân trên 40 tuổi, cần thực hiện thêm điện tâm đồ (ECG). BUN và creatinine nên được kiểm tra mỗi 2 đến 3 tháng trong 6 tháng đầu điều trị, và mỗi 6 đến 12 tháng sau đó. Chức năng tuyến giáp nên được kiểm tra một hoặc hai lần trong 6 tháng đầu, và mỗi 6 đến 12 tháng sau đó. (Xem ‘Xét nghiệm và theo dõi’ ở dưới.)

Tác dụng không mong muốn – Lithium có thể gây ra một số tác dụng phụ, bao gồm các ảnh hưởng đến thận và tuyến giáp. Ngoài ra, các rối loạn nhịp tim đã được ghi nhận; những trường hợp này hầu hết xảy ra ở bệnh nhân có bệnh lý tim mạch từ trước. Các tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc chuyển biến xấu đột ngột có thể là dấu hiệu của ngộ độc lithium. (Xem ‘Quản lý các tác dụng không mong muốn của lithium’, ‘Độc tính của lithium’ ở dưới và “Ngộ độc lithium”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here