TÓM TẮT
Các thông số sinh lý – Ống thông động mạch phổi cho phép đo trực tiếp áp lực tĩnh mạch trung tâm, các buồng tim phải, động mạch phổi và áp lực bít động mạch phổi. Bên cạnh đó, thiết bị này còn giúp ước tính cung lượng tim, sức cản mạch máu hệ thống và mạch máu phổi, cũng như độ bão hòa oxy hemoglobin máu tĩnh mạch trộn, lượng oxy cung cấp và lượng oxy tiêu thụ. (Xem phần ‘Các thông số sinh lý’ phía trên.)
Chỉ định – Ở người bệnh nặng, việc đặt ống thông động mạch phổi thường quy không đem lại lợi ích. Tuy nhiên, trên một số nhóm đối tượng chọn lọc, chúng tôi và các chuyên gia khác cho rằng ống thông động mạch phổi cung cấp những thông tin rất giá trị (bảng 1). (Xem phần ‘Chỉ định’ phía trên.)
Các chỉ định phổ biến nhất của việc đặt ống thông động mạch phổi bao gồm đánh giá hoặc xử trí tình trạng thể tích chưa rõ ở người bệnh sốc, sốc tim nặng, và nghi ngờ hoặc đã xác định tăng áp động mạch phổi (bảng 1).
Một số chuyên gia cũng tiến hành đặt ống thông động mạch phổi trong giai đoạn chu phẫu ở người bệnh mắc bệnh tim bẩm sinh, bệnh van tim nặng, shunt trái-phải và bệnh lý tim phổi nặng đi kèm.
Chống chỉ định – Chống chỉ định bao gồm các trường hợp sau (xem phần ‘Chống chỉ định’ phía trên):
- Chống chỉ định tuyệt đối của việc đặt ống thông động mạch phổi bao gồm nhiễm trùng tại vị trí đặt, người bệnh mang dụng cụ hỗ trợ thất phải, đặt ống thông trong quá trình tuần hoàn ngoài cơ thể, và thiếu sự đồng thuận từ người bệnh hoặc gia đình.
- Chống chỉ định tương đối bao gồm tình trạng rối loạn đông máu (tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế > 1,5), giảm tiểu cầu (số lượng tiểu cầu < 50.000/microL), rối loạn điện giải (tăng hoặc giảm kali, magie, natri, canxi máu), và rối loạn thăng bằng kiềm-toan nặng (ví dụ pH < 7,2 hoặc > 7,5).
Quyết định đặt ống thông động mạch phổi ở người bệnh nặng hoặc trong giai đoạn chu phẫu cần được cân nhắc trên từng cá thể dựa trên việc đong đếm kỹ lưỡng giữa lợi ích tiềm năng và nguy cơ cho người bệnh. Quyết định thực hiện thông tim phải ở người bệnh nghi ngờ tăng áp động mạch phổi phụ thuộc vào mức độ nghi ngờ cao sau khi đã hoàn tất đánh giá chẩn đoán toàn diện. (Xem phần ‘Đưa ra quyết định đặt ống thông động mạch phổi’ phía trên và “Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán tăng áp động mạch phổi chưa rõ nguyên nhân ở người lớn”, mục ‘Thông tim phải’.)
Biến chứng – Các biến chứng thường gặp đặc trưng khi đặt ống thông động mạch phổi bao gồm rối loạn nhịp nhĩ hoặc thất. Ít gặp hơn, tình trạng đặt sai vị trí hoặc thắt nút ống thông có thể xảy ra. Thủng buồng tim, rách van tim hoặc vỡ động mạch phổi là những biến chứng hiếm gặp nhưng có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc. Các biến chứng trong quá trình sử dụng ống thông gồm vỡ động mạch phổi, nhồi máu phổi, biến cố huyết khối tắc mạch, nhiễm trùng và diễn giải sai dữ liệu. (Xem phần ‘Biến chứng’ phía trên.)
Hướng đi tương lai – Nhiều phương pháp ít xâm lấn hơn đã được đề xuất nhằm đánh giá các thông số huyết động ở người bệnh nặng. Những phương pháp này bao gồm các thông số động, siêu âm tim qua thực quản, hệ thống đo trở kháng điện sinh học, pha loãng lithium và hít lại khí trơ. (Xem phần ‘Hướng đi tương lai’ phía trên.)