TÓM TẮT
Dịch tễ học – Phencyclidine (PCP) là một loại thuốc gây mê phân ly được một số lượng đáng kể thanh thiếu niên sử dụng. Trường hợp tiếp xúc với PCP ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là hiếm gặp, thường là do vô tình uống hoặc hít phải do người chăm sóc sử dụng ma túy. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Ngộ độc PCP gây ra nhiều thay đổi về dấu hiệu sinh tồn và các triệu chứng tâm thần kinh. Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, các đặc điểm thường gặp bao gồm thay đổi trạng thái tâm thần (ví dụ: lờ đờ, kích thích), rung giật nhãn cầu, múa giật (choreoathetosis), co giật, thất điều và nhìn chằm chằm vô hồn. Có thể xảy ra ức chế hô hấp đột ngột kèm theo ngưng thở. Ở thanh thiếu niên, các triệu chứng phổ biến là rung giật nhãn cầu, kích động tâm thần vận động, ảo giác và hành vi hung bạo. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng của quá liều’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Bức tranh lâm sàng của ngộ độc PCP có những đặc điểm tương đồng với nhiều loại ngộ độc và bệnh lý khác, đặc biệt là những tình trạng gây ra loạn thần cấp. Chẩn đoán phân biệt và tiếp cận loạn thần cấp tại khoa cấp cứu được trình bày trong các bảng và sơ đồ (bảng 3, bảng 4 và sơ đồ 1) và được thảo luận chi tiết trong phần riêng. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới, “Tiếp cận tại khoa cấp cứu đối với loạn thần khởi phát cấp ở trẻ em”, mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ và “Tiếp cận tại khoa cấp cứu đối với loạn thần khởi phát cấp ở trẻ em”, mục ‘Tiếp cận’.)
Cận lâm sàng – Các xét nghiệm cận lâm sàng được thực hiện để hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng, đánh giá các chất cùng gây ngộ độc, cũng như tầm soát tiêu cơ vân và các biến chứng liên quan đã được thảo luận ở trên. (Xem ‘Các nghiên cứu chung’ ở dưới.)
Định lượng nồng độ thuốc trong máu ít có vai trò trong xử trí độc tính cấp ở những đối tượng đã biết là có sử dụng ma túy giải trí. Xét nghiệm nước tiểu định tính là phù hợp khi cần phân biệt loạn thần cấp do độc tính của thuốc với các loại loạn thần khác, hoặc trong những tình huống nghi ngờ ngược đãi trẻ em. Kết quả có thể dương tính trong nhiều tuần, do đó, một xét nghiệm nước tiểu dương tính có thể không phản ánh tình trạng ngộ độc cấp hiện tại. (Xem ‘Xét nghiệm phencyclidine’ ở dưới và “Ngộ độc Phencyclidine (PCP) ở người lớn”, mục ‘Xét nghiệm tìm PCP’.)
Xử trí – Điều trị ngộ độc PCP chủ yếu là điều trị hỗ trợ. Ngoài việc đánh giá kỹ lưỡng và hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn (ABC) khi cần thiết, lâm sàng cần dự phòng và xử trí tích cực các tình trạng kích động, co giật, tăng thân nhiệt, tiêu cơ vân, tăng huyết áp và các phản ứng loạn trương lực cơ. (Xem ‘Đường thở, hô hấp và tuần hoàn’, ‘An thần’ và ‘Điều trị các biến chứng’ ở dưới.)
Việc kiểm soát sớm tình trạng kích động hoặc hành vi hung bạo là thiết yếu để ngăn ngừa thương tích cho bệnh nhân và nhân viên y tế. Thuốc an thần nên được dùng càng sớm càng tốt. Nhân viên cấp cứu cần loại trừ nhanh chóng tình trạng hạ đường huyết và thiếu oxy đe dọa tính mạng vì đây là những yếu tố góp phần gây kích động. Tiếp cận an thần cụ thể như sau:
- Kích động nặng – Ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên kích động nặng, chúng tôi đề nghị dùng ngay benzodiazepine đường tĩnh mạch (IV) (lorazepam 0,1 mg/kg IV, liều đơn tối đa thông thường là 4 mg; hoặc diazepam 0,2 mg/kg IV, liều đơn tối đa thông thường là 10 mg) (Khuyến cáo 2C). Các liều này có thể lặp lại mỗi 8 đến 10 phút tùy theo đáp ứng của bệnh nhân. Mặc dù đường tĩnh mạch được ưu tiên, nhưng có thể dùng midazolam tiêm bắp (0,5 mg/kg, liều đơn tối đa thông thường là 10 mg) cho những bệnh nhân không thể thiết lập đường truyền tĩnh mạch nhanh chóng. (Xem ‘Kích động nặng’ ở dưới.)
- Kích động nặng không đáp ứng với benzodiazepine – Ở bệnh nhân thanh thiếu niên kích động nặng, có nguy cơ gây hại cho bản thân hoặc người khác mà không kiểm soát được bằng benzodiazepine đường tiêm, chúng tôi đề nghị dùng haloperidol đường tiêm (liều khởi đầu 5 mg, IV hoặc tiêm bắp) (Khuyến cáo 2C). Trường hợp thanh thiếu niên vẫn tiếp tục kích động dù đã dùng liều benzodiazepine và haloperidol phù hợp, và tình trạng này gây nguy cơ biến chứng đe dọa tính mạng (ví dụ: tăng thân nhiệt, tiêu cơ vân), cần thực hiện đặt nội khí quản trình tự nhanh (RSI) và dùng thuốc giãn cơ (bảng 5). (Xem ‘Kích động nặng’ ở dưới.)
- Ngộ độc nặng có nguy cơ tăng thân nhiệt hoặc tiêu cơ vân – Ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ dưới 12 tuổi ngộ độc PCP nặng có nguy cơ biến chứng đe dọa tính mạng (ví dụ: tăng thân nhiệt, tiêu cơ vân), chúng tôi đề nghị thực hiện RSI và dùng thuốc giãn cơ (bảng 5) thay vì dùng haloperidol (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Kích động nặng’ ở dưới.)
- Ngộ độc nhẹ hoặc trung bình – Ở bệnh nhân ngộ độc PCP nhẹ hoặc trung bình, chúng tôi đề nghị dùng benzodiazepine (ví dụ: lorazepam 0,05 mg/kg IV, liều đơn tối đa thông thường là 2 mg; hoặc diazepam 0,1 mg/kg IV, liều đơn tối đa thông thường là 5 mg) (Khuyến cáo 2C). Có thể lặp lại liều benzodiazepine khi cần thiết. (Xem ‘Kích động nhẹ đến trung bình’ ở dưới.)
Vai trò của giải độc đường tiêu hóa – Trẻ em và thanh thiếu niên ngộ độc PCP không được thực hiện làm rỗng dạ dày (gây nôn hoặc rửa dạ dày) hoặc hút dạ dày liên tục qua ống thông mũi-dạ dày. Trẻ em và thanh thiếu niên chỉ ngộ độc đơn độc PCP cũng không nên dùng than hoạt tính (AC). Tuy nhiên, những bệnh nhân cùng dùng các chất khác có khả năng gắn kết với AC thì có thể mang lại lợi ích khi sử dụng. (Xem ‘Khử nhiễm’ ở dưới.)
Bảo vệ trẻ em – Việc chẩn đoán trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ tiếp xúc với PCP cần nhanh chóng phối hợp với đội bảo vệ trẻ em giàu kinh nghiệm (ví dụ: nhân viên xã hội, điều dưỡng, bác sĩ chuyên khoa), nếu có, và báo cáo bắt buộc tùy theo quy định pháp luật địa phương. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ngộ độc PCP nhẹ cần được đánh giá đầy đủ về hoàn cảnh xã hội dẫn đến việc tiếp xúc với thuốc. Quá trình điều tra này thường yêu cầu bệnh nhân phải nhập viện. (Xem ‘Bảo vệ trẻ em’ ở dưới và “Ngược đãi trẻ em: Các vấn đề xã hội và pháp lý y khoa”, mục ‘Báo cáo bắt buộc’.)
Hướng xử trí tiếp theo – Bệnh nhân ở mọi lứa tuổi có các triệu chứng kéo dài cần được nhập viện để theo dõi. Do thời gian tác dụng tương đối ngắn, trẻ lớn và thanh thiếu niên có triệu chứng nhẹ có thể được theo dõi ngắn hạn và cho xuất viện. Những bệnh nhân đã hết triệu chứng thực thể nhưng vẫn còn các vấn đề về hành vi cần được đánh giá tâm thần. (Xem ‘Xử trí’ ở dưới.)