Ung thư biểu mô tế bào vảy ở da (cSCC): Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán

TÓM TẮT

Tại thời điểm chẩn đoán, những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy da (cSCC) xâm lấn cần được khám da toàn thân, bao gồm cả sờ nắn các hạch bạch huyết vùng nhằm đánh giá các tổn thương cSCC bổ sung và tìm kiếm các dấu hiệu lâm sàng của di căn. Việc phân giai đoạn cSCC được thảo luận riêng. (Xem “Đánh giá di căn vùng và di căn xa trong ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào đáy ở da”, phần ‘Ung thư biểu mô tế bào vảy da’“Nhận diện và quản lý ung thư biểu mô tế bào vảy da nguy cơ cao (tiến triển nhanh)”, phần ‘Phân giai đoạn’.)

TÓM TẮT

  • Biểu hiện lâm sàng – Ung thư biểu mô tế bào vảy da (cSCC) có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên da, nhưng phổ biến nhất là tại những vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ở những người có làn da sáng màu. Ngược lại, tổn thương ở các vị trí khác, đặc biệt là vùng cẳng chân dưới và vùng hậu môn – sinh dục, thường gặp hơn ở những người có làn da sẫm màu. (Xem ‘Vị trí’ ở dưới.)
  • Ung thư biểu mô tế bào vảy da tại chỗ – cSCC tại chỗ (bệnh Bowen) thường biểu hiện dưới dạng một mảng hoặc dát đỏ, giới hạn rõ, có vảy (hình 5A-B), khu trú ở những vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. cSCC tại chỗ ở dương vật (tình trạng đỏ biểu mô Queyrat – erythroplasia of Queyrat) biểu hiện là một mảng đỏ, nhung, giới hạn rõ (hình 2B). (Xem ‘Ung thư biểu mô tế bào vảy da tại chỗ (bệnh Bowen)’ ở dưới.)
  • Ung thư biểu mô tế bào vảy da xâm lấn – Đặc điểm của cSCC xâm lấn thường tương quan với mức độ biệt hóa của khối u. Các tổn thương biệt hóa tốt thường xuất hiện dưới dạng sẩn, mảng hoặc nốt sừng hóa, chắc hoặc cứng, kích thước từ 0,5 đến 1,5 cm (hình 1A-D), mặc dù một số tổn thương có thể lớn hơn nhiều. (Xem ‘Ung thư biểu mô tế bào vảy da xâm lấn’ ở dưới.)
  • Các biến thể lâm sàng – Các biến thể lâm sàng của cSCC bao gồm u sừng gai (keratoacanthoma) (hình 7), ung thư biểu mô nhú (verrucous carcinoma) (hình 8), ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) ở môi (hình 10), cSCC phát sinh tại các vị trí viêm mạn tính và sẹo (loét Marjolin) (hình 4) và ung thư biểu mô giống lymphoepithelioma nguyên phát ở da. (Xem ‘Các biến thể lâm sàng’ ở dưới.)
  • Chẩn đoán – Sinh thiết là cần thiết để xác định chẩn đoán SCC. Đối với các tổn thương nghi ngờ xâm lấn trên lâm sàng, phương pháp sinh thiết bằng cách nạo (shave), sinh thiết bấm (punch) hoặc sinh thiết cắt bỏ kéo dài ít nhất đến lớp trung bì lưới được ưu tiên lựa chọn. (Xem ‘Sinh thiết và mô bệnh học’ ở dưới.)
  • Phân giai đoạn – Những bệnh nhân đã xác định chẩn đoán cSCC xâm lấn cần được khám da toàn thân, bao gồm cả sờ nắn các hạch bạch huyết vùng nhằm đánh giá các tổn thương cSCC bổ sung và tìm kiếm các dấu hiệu lâm sàng của di căn. Việc phân giai đoạn cSCC được thảo luận riêng. (Xem “Đánh giá di căn vùng và di căn xa trong ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào đáy ở da”, phần ‘Đánh giá vùng’“Nhận diện và quản lý ung thư biểu mô tế bào vảy da nguy cơ cao (tiến triển nhanh)”, phần ‘Phân giai đoạn’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here