TÓM TẮT
Vi mất đoạn (Microdeletions) – Vi mất đoạn, hay còn gọi là mất đoạn dưới hiển vi, là những đoạn mất trên nhiễm sắc thể có kích thước quá nhỏ để có thể phát hiện bằng kính hiển vi quang học thông qua các phương pháp di truyền tế bào truyền thống. Những tổn thương này có thể gây bệnh hoặc chỉ là một phần của biến thể di truyền sinh lý. Kích thước và vị trí chính xác của vùng vi mất đoạn gây ra một hội chứng có thể thay đổi, nhưng một “vùng tới hạn” (critical region) cụ thể luôn bị ảnh hưởng. Hầu hết các biểu hiện kiểu hình của vi mất đoạn là do tình trạng thiếu hụt đơn bội (haploinsufficiency) của một vài gen tới hạn, hoặc trong một số trường hợp, chỉ do một gen duy nhất. Các rối loạn bộ gen, bao gồm cả vi mất đoạn, thường được phát hiện bằng kỹ thuật lai phân tử so sánh mảng (aCGH). (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ và ‘Tổng quan về các rối loạn bộ gen’ ở dưới.)
Các hội chứng vi mất đoạn thường gặp
-
Hội chứng mất đoạn 15q11-13 – Đây là một trong những trường hợp vi mất đoạn phổ biến nhất. Mất đoạn trên nhiễm sắc thể 15 có nguồn gốc từ cha sẽ dẫn đến hội chứng Prader-Willi (PWS; MIM #176270), trong khi mất đoạn tương tự trên nhiễm sắc thể 15 có nguồn gốc từ mẹ sẽ gây ra hội chứng Angelman (AS; MIM #105830).
- Hội chứng PWS đặc trưng bởi tình trạng giảm trương lực cơ; trẻ sơ sinh bú kém và chậm phát triển, nhưng sau đó tăng cảm giác thèm ăn và béo phì ở trẻ em và người trưởng thành; thiểu sản cơ quan sinh dục; bàn tay và bàn chân nhỏ; cùng các đặc điểm khuôn mặt đặc trưng. (Xem thêm ‘Mất đoạn 15q11-13 nguồn gốc từ cha (Hội chứng Prader-Willi)’ ở dưới.)
- Hội chứng AS là một rối loạn phát triển thần kinh đặc trưng bởi khuyết tật trí tuệ mức độ nặng đến rất nặng, teo nhỏ đầu sau sinh, và rối loạn vận động hoặc thăng bằng, thường biểu hiện dưới dạng thất điều dáng đi và/hoặc run chi. Bệnh nhân cũng thường có các cơn co giật và các hành vi đặc trưng. (Xem thêm ‘Mất đoạn 15q11-13 nguồn gốc từ mẹ (Hội chứng Angelman)’ ở dưới.)
-
Hội chứng mất đoạn 22q11.2 (Hội chứng DiGeorge và hội chứng mặt – tim – vòm họng) – Hơn 90% bệnh nhân hội chứng DiGeorge (MIM #188400) có vi mất đoạn liên quan đến vùng 22q11.2 trên nhiễm sắc thể. Hội chứng này đặc trưng bởi những bất thường trong quá trình phát triển của cung mang thứ 3 và thứ 4, dẫn đến thiểu sản tuyến ức và/hoặc tuyến cận giáp, dị tật tim vùng nón – thân động mạch và dị hình khuôn mặt. Các biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm hạ canxi máu sơ sinh, dễ nhiễm trùng, khó khăn trong học tập từ mức độ nhẹ đến trung bình, cũng như có xu hướng mắc các bệnh tự miễn trong giai đoạn sau của cuộc đời.
Hội chứng mặt – tim – vòm họng (VCFS) có một số đặc điểm trùng lặp với hội chứng DiGeorge, chẳng hạn như dị tật tim vùng nón – thân động mạch và bất thường khuôn mặt, và cũng do các mất đoạn kẽ của vùng 22q11 gây ra. (Xem thêm ‘Hội chứng mất đoạn 22q11.2 (Hội chứng DiGeorge/Hội chứng mặt – tim – vòm họng)’ ở dưới.)
- Hội chứng mất đoạn 16p11.2 – Đây là một trong những rối loạn bộ gen tái diễn phổ biến nhất liên quan đến các rối loạn phát triển thần kinh, tâm thần và phổ tự kỷ. Hội chứng này có độ xâm nhập không hoàn toàn và biểu hiện đa dạng. Các phát hiện lâm sàng bao gồm mức độ khuyết tật trí tuệ thay đổi với tỷ lệ chậm phát triển ngôn ngữ cao, trong đó khiếm khuyết về ngôn ngữ diễn đạt rõ rệt hơn ngôn ngữ tiếp nhận. (Xem thêm ‘Hội chứng mất đoạn 16p11.2’ ở dưới.)
- Các hội chứng vi mất đoạn khác – Bao gồm hội chứng mất đoạn 13q14 liên quan đến u nguyên bào võng mạc và hội chứng mất đoạn 20p11 liên quan đến tình trạng ứ mật, cùng một số hội chứng khác. (Xem thêm ‘Hội chứng mất đoạn 13q14 (Hội chứng u nguyên bào võng mạc)’ và ‘Hội chứng mất đoạn 20p11 (Hội chứng Alagille)’ ở dưới.)
Các trường hợp vi mất đoạn trên nhiễm sắc thể từ 1 đến 11 được thảo luận ở phần khác. (Xem “Hội chứng vi mất đoạn (nhiễm sắc thể 1 đến 11)”.)