Thiếu hụt Phosphoglycerate kinase và thiếu hụt Phosphoglycerate mutase

Chẩn đoán

Kết quả sinh thiết cơ trong hầu hết các trường hợp cho thấy sự tích tụ glycogen mức độ nhẹ. Các đám tụ ống dưới màng cơ (subsarcolemmal tubular aggregates) đã được phát hiện ở các sợi cơ loại 2 trong mẫu sinh thiết cơ của bệnh nhân thiếu hụt PGAM 33,41,44.

Mặc dù là phát hiện không đặc hiệu, nhưng khi xuất hiện ở bệnh nhân có triệu chứng chuột rút do vận động và tiểu myoglobin tái diễn, dấu hiệu bệnh lý này gợi ý cao đến tình trạng thiếu hụt PGAM. Hoạt độ PGAM-M giảm khi xét nghiệm enzym, và phân tích phân tử như giải trình tự toàn exome (targeted exome sequencing) có thể phát hiện các biến thể gây bệnh trong gen PGAM 45.

Điều trị

Hiện chưa có liệu pháp điều trị hiệu quả cho tình trạng thiếu hụt PGAM. Một bệnh nhân thiếu hụt PGAM đã hết triệu chứng sau khi điều trị bằng dantrolene và kết quả nghiệm pháp thiếu máu cục bộ cẳng tay không ghi nhận tình trạng co cứng do vận động. Bệnh nhân này có các đám tụ ống, tăng hoạt độ $\text{Ca}^{2+}$-adenosine triphosphatase (ATP) và tăng hàm lượng canxi trong mô cơ 46.

TÓM TẮT

Tổng quan – Các sai sót bẩm sinh trong chuyển hóa glycogen bao gồm các bệnh dự trữ glycogen (GSD) di truyền (bảng 1). Các biểu hiện chính của rối loạn chuyển hóa glycogen ảnh hưởng đến cơ là chuột rút, không dung nạp vận động, dễ mệt mỏi và yếu cơ tiến triển. (Xem “Các rối loạn chuyển hóa glycogen khác: thiếu hụt GLUT2 và thiếu hụt aldolase A”, phần ‘Giới thiệu’“Tổng quan về các rối loạn di truyền trong chuyển hóa glucose và glycogen”.)

Thiếu hụt Phosphoglycerate kinase (PGK) – Thiếu hụt PGK có thể biểu hiện dưới một trong ba dạng lâm sàng riêng biệt hoặc phối hợp thay đổi: rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương (CNS) với co giật, chậm phát triển trí tuệ và hội chứng parkinson, có thể đi kèm với thiếu máu tán huyết không hình cầu; thiếu máu tán huyết không hình cầu di truyền không kèm tổn thương CNS; bệnh cơ đơn độc với tình trạng không dung nạp vận động, tiểu myoglobin, chuột rút và yếu cơ tiến triển chậm; hoặc phối hợp cả ba biểu hiện trên. Chẩn đoán được xác định bằng cách chứng minh sự thiếu hụt hoạt độ enzym PGK trong mô sinh thiết cơ và/hoặc hồng cầu, hoặc thông qua phân tích phân tử gen PGK1. Hiện chưa có liệu pháp thay thế enzym cho thiếu hụt PGK. Bổ sung acid folic cho bệnh nhân thiếu máu tán huyết là phù hợp, đồng thời cần theo dõi sỏi mật và quá tải sắt nếu cần truyền máu thường xuyên. Ghép tế bào tạo máu có thể là một lựa chọn điều trị. (Xem ‘Thiếu hụt Phosphoglycerate kinase’ ở dưới và “Các rối loạn enzym hồng cầu hiếm gặp”, phần ‘Nguyên tắc quản lý chung’“Các rối loạn enzym hồng cầu hiếm gặp”, phần ‘Thiếu hụt Phosphoglycerate kinase (PGK)’.)

Thiếu hụt Phosphoglycerate mutase (PGAM) (GSD X) – Thiếu hụt PGAM (GSD X) biểu hiện chủ yếu bằng các triệu chứng động, chẳng hạn như không dung nạp vận động, đau cơ, chuột rút và tiểu myoglobin sau hoạt động thể chất cường độ cao. Chẩn đoán được xác định bằng cách chứng minh sự thiếu hụt hoạt độ enzym PGAM trong mô sinh thiết cơ hoặc phân tích phân tử gen PGAM2. (Xem ‘Thiếu hụt Phosphoglycerate mutase’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here