TÓM TẮT
- Thuật ngữ – Các ý nghĩ và hành vi tự gây thương tích có chủ đích có thể là tự sát hoặc không nhằm mục đích tự sát (sơ đồ 1). (Xem mục ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
- Tỷ lệ lưu hành – Tỷ lệ tự sát toàn cầu là 12/100.000 người, khiến tự sát trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 14 trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ này là hơn 15/100.000 người, xếp thứ 10 trong các nguyên nhân gây tử vong. (Xem mục ‘Tự sát’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ chính dẫn đến tự sát bao gồm tiền sử nỗ lực hoặc đe dọa tự sát, rối loạn tâm thần và cảm giác tuyệt vọng. Tính xung động cao cùng với lạm dụng rượu hoặc các chất gây nghiện khác làm tăng khả năng hiện thực hóa các ý định tự sát. Hầu hết các ca tự sát tại Hoa Kỳ có liên quan đến vũ khí nóng. (Xem mục ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Thuốc chống trầm cảm và nguy cơ tự sát – Mặc dù có những lo ngại rằng thuốc chống trầm cảm liên quan đến việc gia tăng nguy cơ tự sát, nhưng nguy cơ tiềm tàng về ý nghĩ và hành vi tự sát liên quan đến thuốc cần được cân nhắc kỹ lưỡng so với lợi ích điều trị và nguy cơ tự sát dài hạn ở những bệnh nhân trầm cảm không được điều trị.
- Đánh giá – Những bệnh nhân nghi ngờ có nguy cơ tự sát cần được hỏi về ý nghĩ và ý định tự sát; nếu có, cần đánh giá mức độ gây tử vong của kế hoạch tự sát đó. Quá trình đánh giá nên bao gồm việc thảo luận về một kế hoạch an toàn (hình 1). (Xem mục ‘Đánh giá bệnh nhân’ ở dưới.)
- Xử trí ban đầu – Bệnh nhân có nguy cơ tự sát cần được hỗ trợ bởi các dịch vụ tâm thần và theo dõi chặt chẽ để đảm bảo an toàn. Mức độ chăm sóc được quyết định dựa trên kết quả đánh giá, các lựa chọn thông thường bao gồm: nhập viện nội trú, điều trị nội trú một phần, chương trình điều trị ngoại trú chuyên sâu hoặc khám tại phòng khám ngoại trú (sơ đồ 2). (Xem mục ‘Xử trí’ và ‘Mức độ chăm sóc và giảm thiểu rủi ro tức thời’ ở dưới.)
- Giải quyết các yếu tố căn nguyên – Sau khi đã đảm bảo an toàn tức thời, các yếu tố căn nguyên như rối loạn tâm thần, các sự kiện thúc đẩy và hoàn cảnh sống hiện tại cần được xử lý bằng thuốc, liệu pháp tâm lý, đồng thời huy động sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình và các nhóm tôn giáo/cộng đồng nếu phù hợp. (Xem mục ‘Yếu tố căn nguyên và rối loạn tâm thần’ ở dưới.)
-
Các phương pháp điều trị cụ thể
- Bệnh nhân trầm cảm chủ yếu đơn cực cấp tính – Đối với những bệnh nhân khởi phát với trầm cảm chủ yếu đơn cực cấp tính kèm theo ý nghĩ hoặc hành vi tự sát, chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc chống trầm cảm đơn trị liệu hoặc kết hợp thuốc chống trầm cảm với esketamine, thay vì các phác đồ điều trị khác (Khuyến cáo 2C). (Xem mục ‘Điều trị dược lý’ ở dưới.)
- Bệnh nhân điều trị cấp tính bằng lithium – Đối với những bệnh nhân mắc rối loạn trầm cảm lưỡng cực và đơn cực vẫn còn nguy cơ tự sát sau khi đã ổn định ngắn hạn bằng phác đồ có lithium, chúng tôi đề xuất tiếp tục duy trì điều trị lithium đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc khác và/hoặc liệu pháp tâm lý, thay vì ngừng sử dụng lithium (Khuyến cáo 2B). (Xem mục ‘Điều trị dược lý’ ở dưới.)
- Bệnh nhân từng nỗ lực tự sát – Sau một lần nỗ lực tự sát, liệu pháp tâm lý (ví dụ: liệu pháp nhận thức – hành vi) có thể giúp ngăn ngừa các lần tự sát tiếp theo. (Xem mục ‘Liệu pháp tâm lý’ ở dưới.)
- Theo dõi và tái khám – Bệnh nhân có tiền sử ý nghĩ và hành vi tự sát có nguy cơ tự sát cao ngay sau khi xuất viện từ khoa tâm thần; do đó, cần được theo dõi sát sao trong quá trình tái khám và đánh giá khả năng tái phát các triệu chứng hoặc xuất hiện các yếu tố nguy cơ. (Xem mục ‘Theo dõi và tái khám’ ở dưới.)
- Can thiệp sau tự sát – Sau một ca tự sát, bạn bè, gia đình và đồng nghiệp của người quá cố có thể đối mặt với nguy cơ tự sát gia tăng, cũng như nguy cơ mắc rối loạn stress sau sang chấn và trầm cảm; họ có thể cần được theo dõi để đảm bảo quá trình vượt qua nỗi đau diễn ra phù hợp. Tuy nhiên, hiện có ít bằng chứng cho thấy các can thiệp sau tự sát mang lại lợi ích rõ rệt. (Xem mục ‘Can thiệp sau tự sát’ ở dưới.)