TÓM TẮT
Biến chứng liên quan đến lưới – Sau khi đặt lưới âm đạo, bệnh nhân có thể xuất hiện mô hạt không lành, lộ lưới, chảy máu âm đạo, đau vùng chậu, đau khi giao hợp và gây kích ứng cho bạn tình. Chẩn đoán lộ lưới được xác định thông qua thăm khám lâm sàng. (Xem thêm ‘Kết quả lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)
Xử trí lộ lưới
- Lộ lưới kích thước nhỏ, không nhiễm trùng – Đối với các trường hợp lộ lưới nhỏ (dưới 0,5 cm), nằm phẳng (song song với bề mặt biểu mô âm đạo) và không nhiễm trùng, chúng tôi ưu tiên sử dụng estrogen tại chỗ trong một thời gian ngắn như liệu pháp điều trị bước một thay vì phẫu thuật cắt bỏ. (Xem thêm ‘Xử trí’ ở dưới.)
- Lộ lưới kích thước lớn, không nhiễm trùng – Đối với các trường hợp lộ lưới lớn (khoảng 2 cm trở lên) hoặc lưới không nằm song song với biểu mô âm đạo (tức là không phẳng), cần phẫu thuật cắt bỏ phần lưới bị lộ vì những trường hợp này ít có khả năng tự lành chỉ với liệu pháp estrogen tại chỗ. (Xem thêm ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)
Các bước cơ bản trong phẫu thuật cắt bỏ lưới bao gồm: loại bỏ phần lưới bị lộ, di động biểu mô xung quanh (để đóng vết thương không căng), cắt tỉa mép biểu mô (để thúc đẩy quá trình lành thương) và đóng vết thương bằng mũi khâu rời, chỉ tự tiêu chậm. (Xem thêm ‘Các thành phần cơ bản’ ở dưới.)
Bệnh nhân lộ lưới có thể cần nhiều lần phẫu thuật để đóng hoàn toàn vị trí lộ. (Xem thêm ‘Phẫu thuật lại’ ở dưới.)
Nhiễm trùng lưới – Chẩn đoán nhiễm trùng lưới dựa trên biểu hiện lâm sàng, có hoặc không kết hợp chẩn đoán hình ảnh tùy vào vị trí nhiễm trùng hoặc triệu chứng. Đối với lưới đa sợi, vi xốp bị nhiễm trùng, cần phải cắt bỏ toàn bộ lưới. Liệu pháp kháng sinh có thể được chỉ định, đặc biệt khi có bằng chứng tổn thương xương hoặc mô mềm. (Xem thêm ‘Lưới nhiễm trùng’ ở dưới.)
Xử trí khoảng hở biểu mô sau cắt bỏ – Nếu việc cắt bỏ phần lưới lộ tạo ra khoảng hở ở biểu mô âm đạo còn lại, có thể đặt lớp dưới niêm mạc ruột non lợn 4 lớp làm cầu nối. (Xem thêm ‘Xử trí khe hở biểu mô’ ở dưới.)
Phẫu thuật đồng thời điều trị són tiểu hoặc sa tạng chậu – Hiện chưa có đủ bằng chứng để khuyến cáo bệnh nhân thực hiện đồng thời phẫu thuật điều trị són tiểu hoặc sa tạng chậu tại thời điểm cắt bỏ lưới. Chúng tôi đợi cho đến khi vị trí cắt bỏ lưới lành hẳn trước khi tiến hành phẫu thuật bổ sung để giải quyết tình trạng sa tạng chậu hoặc són tiểu tái phát. (Xem thêm ‘Phẫu thuật điều trị sa cùng lúc’ ở dưới.)
Đau vùng chậu sau đặt lưới
- Nguyên nhân – Nguyên nhân gây đau vùng chậu mạn tính sau đặt lưới âm đạo rất đa dạng, bao gồm co thắt cơ sàn chậu, đau dây thần kinh thẹn, đau cơ nâng hậu môn, nhiễm trùng và co rút lưới. (Xem thêm ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)
- Phương pháp thăm khám – Thăm khám bệnh nhân đau sau đặt lưới bao gồm đánh giá trương lực cơ sàn chậu, vị trí điểm đau, kiểm tra lưới trong lòng âm đạo và các dải lưới nổi rõ dọc theo các nhánh tương ứng. Thăm trực tràng được thực hiện để tìm kiếm tình trạng lộ lưới ở khoang sau. Soi bàng quang được chỉ định cho những bệnh nhân có triệu chứng tiết niệu. (Xem thêm ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)
- Phương pháp xử trí
Những bệnh nhân đau dữ dội mà không rõ nguyên nhân (ví dụ: không có khối máu tụ, áp xe hoặc tổn thương tạng) sẽ được xử trí bằng cách cắt bỏ lưới và vật lý trị liệu sàn chậu tích cực. Các lựa chọn điều trị không phẫu thuật khác bao gồm sử dụng dụng cụ nong âm đạo, dùng thuốc và tiêm điểm kích hoạt (trigger-point injections). (Xem thêm ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)
Những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bảo tồn sẽ có một số lựa chọn phẫu thuật tiềm năng, bao gồm: cắt đứt nhánh lưới liên quan, cắt bỏ một phần (các) nhánh lưới, hoặc cắt bỏ phân đoạn (ví dụ: từ khoang trước hoặc khoang sau) thân và các nhánh của lưới. (Xem thêm ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)