TÓM TẮT
Đánh giá ban đầu và định kỳ – Biến chứng của đái tháo đường bao gồm cả bệnh lý mạch máu lớn (xơ vữa động mạch) và mạch máu nhỏ (bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh). Các can thiệp kịp thời có thể hạn chế tổn thương cơ quan đích, do đó, bệnh nhân đái tháo đường cần được đánh giá ban đầu và theo dõi định kỳ để tầm soát các biến chứng liên quan.
Chúng tôi thực hiện khai thác tiền sử và thăm khám lâm sàng từ 2 đến 4 lần mỗi năm để điều chỉnh chiến lược kiểm soát đường huyết hiện tại, cũng như quản lý dinh dưỡng, hoạt động thể chất, các yếu tố nguy cơ tim mạch, cùng các biến chứng và bệnh đồng mắc liên quan đến đái tháo đường (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Biến chứng liên quan đến đái tháo đường’ và ‘Các bệnh đồng mắc’ ở dưới.)
Kiểm soát đường huyết và phòng ngừa biến chứng mạch máu nhỏ và lớn – Việc đạt được mục tiêu đường huyết có thể giảm thiểu nguy cơ bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh ở cả đái tháo đường type 1 và type 2, đồng thời cho thấy khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch (CVD) đối với đái tháo đường type 1. (Xem thêm phần ‘Kiểm soát đường huyết’ ở dưới và các bài “Kiểm soát đường huyết và biến chứng mạch máu trong đái tháo đường type 2”, “Kiểm soát đường huyết và biến chứng mạch máu trong đái tháo đường type 1”.)
Mục tiêu A1C – Mục tiêu hemoglobin glycosylated (A1C) ở bệnh nhân đái tháo đường cần được cá thể hóa, cân bằng giữa việc cải thiện các biến chứng mạch máu nhỏ và nguy cơ hạ đường huyết. Mục tiêu điều trị hợp lý đối với hầu hết bệnh nhân là giá trị A1C <7,0% (sử dụng phương pháp xét nghiệm có giới hạn trên của mức bình thường là 6,0%). Mục tiêu đường huyết thường được đặt cao hơn một chút (ví dụ: <8%) đối với bệnh nhân cao tuổi, người có nhiều bệnh đồng mắc, kỳ vọng sống ngắn hoặc ít có khả năng hưởng lợi từ liệu pháp điều trị tích cực. Việc quản lý nghiêm ngặt hơn (A1C <6%) có thể được chỉ định trong thời kỳ mang thai. (Xem thêm phần ‘Theo dõi đường huyết và mục tiêu A1C’ ở dưới và các bài “Kiểm soát đường huyết và biến chứng mạch máu trong đái tháo đường type 2”, phần ‘Lựa chọn mục tiêu đường huyết’, “Đái tháo đường trước khi mang thai: Kiểm soát đường huyết tiền sản”, phần ‘Giá trị đường huyết mục tiêu’ và “Kiểm soát đường huyết và biến chứng mạch máu trong đái tháo đường type 1”, phần ‘Mục tiêu đường huyết’.)
Phòng ngừa biến cố tim mạch – Phòng ngừa biến cố tim mạch là ưu tiên hàng đầu cho bệnh nhân đái tháo đường, đặc biệt là type 2. Cai thuốc lá là điều thiết yếu đối với những bệnh nhân đang hút thuốc. Nguy cơ tim mạch cũng có thể giảm đáng kể thông qua việc kiểm soát tích cực tăng huyết áp, cholesterol, sử dụng aspirin (75 đến 162 mg/ngày) và sử dụng một số thuốc hạ đường huyết nhất định ở những bệnh nhân đã mắc hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch (CVD). (Xem thêm phần ‘Giảm nguy cơ bệnh mạch máu lớn’ ở dưới và các bài “Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường”, phần ‘Tiếp cận hạ huyết áp’ và “Quản lý tăng đường huyết kéo dài trong đái tháo đường type 2”, phần ‘Thất bại với liệu pháp đơn trị’.)
Tổ chức chăm sóc – Nhiều bệnh nhân đái tháo đường hiện chưa nhận được mức độ chăm sóc y tế theo khuyến cáo; do đó, việc xây dựng các hệ thống chăm sóc dựa trên nguyên tắc quản lý bệnh lý là rất quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị. (Xem thêm phần ‘Mức độ đầy đủ của chăm sóc’ ở dưới.)
Liệu pháp insulin tích cực hướng tới thay thế insulin sinh lý được khuyến cáo cho hầu hết bệnh nhân đái tháo đường type 1. Vì vậy, những bệnh nhân này nên được chuyển đến bác sĩ nội tiết để quản lý chuyên sâu.
Đối với đa số bệnh nhân đái tháo đường type 2, việc chăm sóc có thể được thực hiện bởi các bác sĩ chăm sóc ban đầu và đội ngũ y tế phối hợp với các chuyên khoa khác khi phù hợp. Những bệnh nhân cần tiêm insulin nhiều lần trong ngày nên được quản lý bởi hoặc tham vấn ý kiến của bác sĩ nội tiết nếu có thể. (Xem thêm phần ‘Chỉ định chuyển tuyến’ ở dưới.)