Phân loại đái tháo đường và các hội chứng đái tháo đường do di truyền

TÓM TẮT

  • Đái tháo đường típ 1 – Đặc trưng bởi sự phá hủy các tế bào beta tuyến tụy, dẫn đến tình trạng thiếu hụt insulin tuyệt đối. Nguyên nhân thường do quá trình tự miễn phá hủy các tế bào beta này (Xem ‘Đái tháo đường típ 1’ ở dưới).

  • Đái tháo đường típ 2 – Đây là thể đái tháo đường phổ biến nhất hiện nay, đặc trưng bởi mức độ kháng insulin và thiếu hụt insulin thay đổi tùy trường hợp (Xem ‘Đái tháo đường típ 2’ ở dưới).

  • Khó khăn trong việc phân biệt đái tháo đường típ 1 và biểu hiện không điển hình của đái tháo đường típ 2 – Khi chẩn đoán đái tháo đường típ 1 hay típ 2 không chắc chắn dựa trên biểu hiện lâm sàng (ví dụ: bệnh nhân đáp ứng kém với liệu pháp ban đầu bằng sulfonylurea hoặc metformin, có tiền sử bản thân hoặc gia đình mắc bệnh tự miễn), chúng tôi sẽ định lượng ít nhất hai loại tự kháng thể (glutamic acid decarboxylase 65 [GAD65], insulin, tyrosine phosphatases [protein 2 liên quan đến insulinoma (IA-2) và IA-2 beta], tế bào đảo tụy, hoặc zinc transporter 8 [ZnT8]).

    Nếu phát hiện hai hoặc nhiều tự kháng thể, bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo đường típ 1 và cần được điều trị bằng liệu pháp thay thế insulin, vì nhóm bệnh nhân này thường đáp ứng kém với chế độ ăn kiêng và thuốc hạ đường huyết đường uống (Xem ‘Phân biệt đái tháo đường típ 1 và típ 2’ ở dưới).

  • Các biến thể di truyền – Cùng với những tiến bộ trong nghiên cứu hệ gen người, nhiều biến thể di truyền tại các locus khác nhau có khả năng sẽ được tìm thấy, gây ra các mức độ tiền đề khác nhau cho đái tháo đường típ 1 và típ 2. Các nguyên nhân đơn gen của đái tháo đường típ 2 chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ các trường hợp, và các đa hình di truyền phổ biến thường chỉ đóng góp một phần nhỏ vào nguy cơ mắc bệnh hoặc khả năng bảo vệ khỏi bệnh đái tháo đường. Hầu hết nguy cơ di truyền của đái tháo đường típ 2 là kết quả của các yếu tố nguy cơ đa gen phức tạp (Xem ‘Các biến thể di truyền’ ở dưới và “Bệnh sinh của đái tháo đường típ 2”, phần ‘Tính nhạy cảm di truyền’).

  • Đái tháo đường đơn gen – Đái tháo đường đơn gen, trước đây gọi là đái tháo đường khởi phát ở người trẻ (MODY), là một rối loạn không đồng nhất về lâm sàng, đặc trưng bởi sự khởi phát bệnh ở tuổi trẻ (<25 tuổi) với hình thức di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường và không có các tự kháng thể liên quan đến đái tháo đường. Bệnh được phân loại theo khiếm khuyết di truyền cơ bản (bảng 3). Nhiều bệnh nhân đái tháo đường đơn gen bị phân loại nhầm thành đái tháo đường típ 1 hoặc típ 2 (bảng 2) (Xem ‘Đái tháo đường đơn gen (trước đây gọi là đái tháo đường khởi phát ở người trẻ)’ ở dưới).

  • Chẩn đoán – Chẩn đoán đái tháo đường đơn gen (MODY) được thực hiện thông qua xét nghiệm di truyền chẩn đoán bằng phương pháp giải trình tự thế hệ mới (NGS) dựa trên bảng gen (gene panel) hoặc giải trình tự một gen cụ thể khi kiểu hình lâm sàng gợi ý mạnh mẽ. Các phòng xét nghiệm tại nhiều quốc gia cung cấp dịch vụ xét nghiệm lâm sàng, bao gồm các bảng gen cho các biến thể phổ biến nhất: yếu tố nhân tế bào gan-4-alpha (HNF4A), yếu tố nhân tế bào gan-1-alpha (HNF1A) và glucokinase (GCK) (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới).

    Chúng tôi thường chỉ định xét nghiệm di truyền cho đái tháo đường đơn gen (MODY) khi có nghi ngờ cao (đái tháo đường gia đình với kiểu di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường [≥3 thế hệ hoặc cha mẹ mắc bệnh và có ít nhất một người thân trực hệ khác cũng mắc đái tháo đường], khởi phát <25 tuổi, tự kháng thể tế bào đảo tụy âm tính) (bảng 2). Đối với các thành viên trong gia đình của người mang đột biến, cần thực hiện xét nghiệm sinh hóa để xác nhận đái tháo đường trước khi xem xét xét nghiệm di truyền. Nếu các xét nghiệm sinh hóa phù hợp với chẩn đoán đái tháo đường, xét nghiệm di truyền có thể được thực hiện để xác định phân thể đái tháo đường đơn gen (Xem ‘Chỉ định xét nghiệm di truyền’ ở dưới).

  • Các bệnh lý tuyến tụy ngoại tiết – Các bệnh gây tổn thương tuyến tụy hoặc phẫu thuật cắt bỏ mô tụy có thể dẫn đến đái tháo đường. Tần suất xảy ra tình trạng này rất đa dạng, chủ yếu phụ thuộc vào mức độ suy tụy (Xem ‘Các bệnh lý tuyến tụy ngoại tiết’ ở dưới).

  • Các bệnh nội tiết – Một số bệnh nội tiết, bao gồm hội chứng Cushing, bệnh to đầu chi (acromegaly) và u tủy thượng thận (pheochromocytoma), có thể dẫn đến rối loạn điều hòa glucose (Xem ‘Các bệnh nội tiết’ ở dưới).

  • Đái tháo đường do thuốc – Một số lượng lớn các loại thuốc có thể làm suy giảm khả năng dung nạp glucose; chúng tác động bằng cách giảm tiết insulin, tăng sản xuất glucose tại gan hoặc gây kháng insulin (Xem “Bệnh sinh của đái tháo đường típ 2”, phần ‘Tăng đường huyết do thuốc’).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here