Triệt sản nữ qua nội soi buồng tử cung

TÓM TẮT

Tổng quan – Các phương pháp triệt sản vĩnh viễn qua nội soi buồng tử cung trước đây bao gồm thiết bị Essure (hình 1) và Adiana. Mặc dù kể từ năm 2019, cả hai loại thiết bị này đều không còn được chỉ định đặt mới, nhưng những bệnh nhân đã đặt các thiết bị này có thể gặp các vấn đề hoặc có thắc mắc liên quan. (Xem mục ‘Tổng quan’‘Các loại thiết bị’ ở dưới.)

Điểm tư vấn – Một hạn chế lớn trong việc đánh giá hiệu quả và tính an toàn của triệt sản vĩnh viễn qua nội soi buồng tử cung là sự phụ thuộc vào các phân tích hồi cứu từ cơ sở dữ liệu yêu cầu bồi thường bảo hiểm, trong khi thiếu các phân tích và thu thập dữ liệu tiền cứu, đối chứng sau thị trường một cách thỏa đáng. (Xem mục ‘Điểm tư vấn’ ở dưới.)

Mặc dù dữ liệu về hiệu quả còn hạn chế, tỷ lệ mang thai trong thực tế được báo cáo là từ 0,25% đến 2,4% sau triệt sản vĩnh viễn qua nội soi buồng tử cung. Một số ước tính cho thấy có tới một nửa số trường hợp mang thai sau thủ thuật này có liên quan đến việc không tuân thủ xét nghiệm khẳng định theo dõi bằng chụp tử cung vòi trứng (HSG) hoặc, trong một số trường hợp chọn lọc, là siêu âm vùng chậu. (Xem mục ‘Hiệu quả’ ở dưới.)

Trong các phân tích theo ý định điều trị (intention-to-treat), tỷ lệ thất bại “điển hình” (mang thai) sau triệt sản qua nội soi buồng tử cung cao hơn so với triệt sản qua nội soi ổ bụng. (Xem mục ‘Hiệu quả’ ở dưới.)

Các vấn đề liên quan đến thủ thuật – Các vấn đề đặc thù của triệt sản vĩnh viễn qua nội soi buồng tử cung bao gồm: nhu cầu thực hiện lại thủ thuật, tỷ lệ tin cậy (lên đến 88% sau sáu tháng) và các biến chứng phẫu thuật tức thì. Khoảng 4% đến 8% bệnh nhân đặt thiết bị triệt sản qua nội soi buồng tử cung cần thực hiện thủ thuật lần hai, so với tỷ lệ dưới 1% ở bệnh nhân triệt sản qua nội soi ổ bụng. (Xem mục ‘Các vấn đề liên quan đến thủ thuật’ ở dưới.)

Biến chứng ngắn hạn – Biến chứng ngắn hạn của triệt sản vĩnh viễn qua nội soi buồng tử cung có thể bao gồm:

  • Nhu cầu thực hiện nhiều hơn một lần phẫu thuật để đạt được mục tiêu triệt sản.
  • Đặt sai vị trí hoặc đẩy vòng ra ngoài.
  • Thủng tử cung hoặc vòi trứng.
  • Khả năng vòng rơi vào khoang bụng-chậu, dẫn đến tổn thương ruột, đau vùng chậu, đẩy thiết bị ra ngoài hoặc nhiễm trùng vùng chậu.

(Xem mục ‘Biến chứng và kết cục ngắn hạn’ ở dưới.)

Biến chứng dài hạn – Các biến chứng dài hạn bao gồm thất bại thiết bị (tức là mang thai), di lệch thiết bị, rối loạn kinh nguyệt, đau vùng chậu và nhu cầu phẫu thuật phụ khoa bổ sung. (Xem mục ‘Biến chứng và kết cục dài hạn’ ở dưới.)

Tháo bỏ thiết bị – Đối với những bệnh nhân có nguyện vọng tháo bỏ thiết bị triệt sản nội soi buồng tử cung, hiện có rất ít dữ liệu về chỉ định, quy trình tối ưu và kết quả điều trị. Cần có thêm dữ liệu tiền cứu, cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để cung cấp thông tin cho bệnh nhân và lâm sàng về các thực hành tốt nhất. (Xem mục ‘Tháo bỏ Essure’ ở dưới.)

Lý do phổ biến nhất được đưa ra để tháo bỏ là đau vùng chậu. Các triệu chứng đau thường được cho là do đặt vòng không tối ưu hoặc do phản ứng tại chỗ hoặc toàn thân với các thành phần của thiết bị (ví dụ: niken hoặc sợi polyethylene terephthalate). (Xem mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)

Các báo cáo loạt ca lâm sàng đã mô tả việc tháo bỏ Essure thông qua nội soi buồng tử cung, nội soi ổ bụng và mổ mở ổ bụng. Các quy trình bao gồm tháo vòng, cắt vòi trứng có hoặc không kèm cắt góc tử cung, và cắt tử cung. Trước khi tiến hành tháo bỏ bằng bất kỳ phương pháp nào, các chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, HSG hoặc X-quang bụng) được sử dụng để xác định vị trí của vòng nhằm lập kế hoạch phẫu thuật.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here