TÓM TẮT
Định nghĩa – Phản vệ là một hội chứng cấp tính, có khả năng gây tử vong, ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan, xảy ra do sự giải phóng đột ngột các chất trung gian từ tế bào mast, bạch cầu ưa kiềm và đại thực bào vào hệ tuần hoàn. (Xem “Phản vệ: Điều trị cấp cứu”.)
Phản vệ miễn dịch và không miễn dịch – Phản vệ được phân thành hai loại: “miễn dịch” và “không miễn dịch”. Phản vệ miễn dịch bao gồm các phản ứng thông qua trung gian Immunoglobulin E (IgE) và Immunoglobulin G (IgG) (loại sau hiện chưa được xác định ở người), cũng như các cơ chế thông qua phức hợp miễn dịch/bổ thể. Phản vệ không miễn dịch gây ra bởi các tác nhân hoặc sự kiện kích thích sự giải hạt ồ ạt và đột ngột của tế bào mast hoặc bạch cầu ưa kiềm mà không có sự tham gia của kháng thể. (Xem ‘Các cơ chế đề xuất’ ở dưới.)
Các chất trung gian hóa học – Trong phản vệ qua trung gian IgE, sự kích hoạt các tế bào mast, bạch cầu ưa kiềm và bạch cầu ưa axit dẫn đến giải phóng các chất trung gian gây viêm đã được hình thành sẵn, bao gồm histamine, tryptase, chymase, heparin, yếu tố giải phóng histamine và yếu tố kích hoạt tiểu cầu (PAF). Quá trình kích hoạt tế bào cũng thúc đẩy sản sinh các chất trung gian có nguồn gốc lipid, chẳng hạn như prostaglandin và cysteinyl leukotrienes. (Xem ‘Các chất trung gian hóa học của phản vệ’ ở dưới.)
Sự ảnh hưởng đến các hệ cơ quan – Ở người, các cơ quan sốc chủ yếu là tim, phổi và hệ mạch máu; tử vong thường do trụy tuần hoàn hoặc ngừng hô hấp 76. (Xem ‘Các hệ cơ quan trong sốc phản vệ’ ở dưới.)
Phản vệ có liên quan đến tình trạng ức chế cơ tim, loạn nhịp tim và thiếu máu cục bộ cơ tim. Các yếu tố góp phần bao gồm tác động trực tiếp của các chất trung gian lên cơ tim, sự trầm trọng hóa tình trạng suy tim sẵn có do stress huyết động trong phản vệ, và tác động của epinephrine ngoại sinh hoặc nội sinh. (Xem ‘Hệ tim mạch’ ở dưới.)
Phản vệ có thể ảnh hưởng đến bất kỳ vị trí nào của đường hô hấp, gây co thắt phế quản và tắc nghẽn nhầy ở các đường dẫn khí nhỏ, hoặc gây phù thanh quản và ngạt thở ở đường hô hấp trên. Tình trạng ngạt thở thường diễn ra nhanh chóng sau khi tiếp xúc với dị nguyên, nhiều trường hợp tử vong trong vòng một giờ. Co thắt phế quản nặng trong phản vệ đặc biệt thường gặp ở những bệnh nhân có tiền sử hen suyễn. (Xem ‘Hệ hô hấp’ ở dưới.)
Vai trò của chuyển hóa kỵ khí – Các bằng chứng sơ bộ cho thấy trong cơn phản vệ, các mô ngoại vi vẫn tiếp tục tiêu thụ oxy ở mức tương đối cao; điều này kết hợp với tình trạng co mạch ngoại vi và giảm tưới máu dẫn đến chuyển hóa kỵ khí nhanh chóng và gây tổn thương cơ quan đích. (Xem ‘Chuyển hóa kỵ khí’ ở dưới.)
Phản vệ tử vong – Các nạn nhân tử vong do phản vệ có thể không cho thấy các đặc điểm bệnh lý đại thể điển hình khi khám nghiệm tử thi, có thể do tử vong diễn ra quá nhanh. Tuy nhiên, nếu có, các tổn thương có thể bao gồm phù đường hô hấp trên và xuất huyết điểm ở niêm mạc đường thở, tắc nghẽn nhầy và căng phồng phổi, cùng với phù não. Các dấu hiệu ở da như mày đay hoặc phù mạch ít gặp hơn. (Xem ‘Kết quả khám nghiệm tử thi’ ở dưới và “Phản vệ gây tử vong”.)