TÓM TẮT
Chăm sóc sản phụ
- Dự phòng băng huyết – Sử dụng Oxytocin để dự phòng băng huyết; nhiều hướng dẫn khuyến cáo phối hợp thêm một thuốc co hồi tử cung thứ hai (ví dụ: acid tranexamic). Các phác đồ có thể thay đổi tùy theo từng cơ sở y tế. (Xem ‘Dự phòng băng huyết’ ở dưới.)
- Giảm đau – Áp dụng chiến lược giảm đau đa mô thức, hạn chế opioid, bao gồm sử dụng acetaminophen và thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) theo giờ cho tất cả bệnh nhân. Phương pháp cụ thể tùy thuộc vào việc bệnh nhân được gây tê trục thần kinh (nên dùng opioid tác dụng tại trục thần kinh) hay gây mê toàn thân khi phẫu thuật (bảng 3). (Xem ‘Kiểm soát đau’ ở dưới.)
- Thông tiểu – Nếu có đặt thông tiểu, cần rút sớm nhất có thể sau sinh (ngay sau khi đóng da) để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng. (Xem ‘Thông tiểu’ ở dưới.)
- Vận động và chế độ ăn
Khuyến khích vận động sớm (khi hết tác dụng của thuốc gây tê/mê, sớm nhất là trong vòng 4 giờ sau sinh) và cho ăn uống đường miệng (trong vòng 6 giờ sau sinh), đồng thời khuyến khích nhai kẹo cao su 3 lần mỗi ngày. Sản phụ có thể tăng dần các hoạt động tập luyện aerobic tùy theo mức độ khó chịu và các biến chứng sau sinh. Quan hệ tình dục có thể bắt đầu lại khi sản phụ thấy sẵn sàng. Tránh bê vác vật nặng. Có thể lái xe trở lại khi không còn sử dụng opioid hoặc thuốc an thần và không có các vấn đề về đau/vận động gây ảnh hưởng đến an toàn khi lái xe. (Xem ‘Vận động sớm’, ‘Tập luyện’, ‘Ăn uống sớm và nhai kẹo cao su’, ‘Quan hệ tình dục’, ‘Bê vác vật nặng’ và ‘Lái xe’ ở dưới.)
Hiệu quả của bài tập cơ sàn chậu Kegel sau sinh trong dự phòng hoặc điều trị són tiểu hiện chưa rõ ràng, tuy nhiên có thể bắt đầu tập khi việc co thắt cơ sàn chậu không gây đau. (Xem ‘Tập luyện’ ở dưới.)
- Chăm sóc vết mổ – Băng vết mổ có thể được tháo bỏ sau 6 giờ và chắc chắn trong vòng 24 giờ sau khi băng; sản phụ có thể tắm vòi sen trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật. (Xem ‘Chăm sóc vết mổ’ ở dưới.)
- Xét nghiệm cận lâm sàng – Việc xét nghiệm hemoglobin định kỳ sau mổ là không cần thiết đối với những sản phụ không có triệu chứng, không thiếu máu trước mổ hoặc không băng huyết trong lúc sinh, vì thông tin này không giúp cải thiện kết cục điều trị. (Xem ‘Theo dõi sản phụ’ ở dưới.)
- Tiếp xúc da kề da và cho con bú – Lý tưởng nhất là việc tiếp xúc da kề da với trẻ sơ sinh và cho con bú được bắt đầu ngay tại phòng sinh. Các loại thuốc hoặc thủ thuật thông thường trong mổ lấy thai không phải là chống chỉ định của việc này. (Xem ‘Tiếp xúc da kề da’ và ‘Cho con bú’ ở dưới.)
- Biến chứng – Tần suất các biến chứng ngắn hạn sau mổ lấy thai bao gồm: liệt ruột (10 đến 20%), viêm nội mạc tử cung (6 đến 11%), biến chứng vết mổ (1 đến 2%), băng huyết cần truyền máu (2 đến 4%), tổn thương do phẫu thuật (0,2 đến 0,5%) và thuyên tắc huyết khối (240 trên 100.000 ca mổ lấy thai). (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
- Vấn đề ở trẻ sơ sinh – Các rủi ro đối với trẻ sơ sinh bao gồm sinh non do can thiệp y tế, các vấn đề về hô hấp và tổn thương trong khi sinh. (Xem ‘Rủi ro đối với thai nhi và trẻ sơ sinh’ ở dưới.)
- Xuất viện sớm – Việc cho xuất viện sớm sau 48 giờ mổ lấy thai là an toàn cho cả mẹ và con nếu cả hai đáp ứng được các yêu cầu y tế cơ bản và không có các dấu hiệu cảnh báo biến chứng nặng. (Xem ‘Xuất viện’ ở dưới.)
Rủi ro dài hạn
Các rủi ro dài hạn chính của mổ lấy thai là bất thường về vị trí rau bám (rau tiền đạo, rau cài răng lược) và vỡ tử cung trong quá trình thử thách chuyển dạ ở những lần mang thai sau (xem ‘Bất thường vị trí rau bám’ và ‘Vỡ tử cung ở lần mang thai sau’ ở dưới). Nguy cơ bất thường vị trí rau bám tăng theo số lần mổ lấy thai.
Tỷ lệ tắc ruột sau mổ lấy thai dao động từ 0,5 đến 9 trên 1000 ca mổ, với nguy cơ cao nhất ở những bệnh nhân đã mổ lấy thai nhiều lần. (Xem ‘Dính ruột và tắc ruột’ ở dưới.)
Các biến chứng sẹo bụng dài hạn bao gồm tê, đau và lạc nội mạc tử cung tại sẹo. Biến chứng sẹo tử cung bao gồm thai sẹo mổ lấy thai và ra máu sau kinh nguyệt. (Xem ‘Biến chứng sẹo tử cung và sẹo bụng’ ở dưới.)
Mổ lấy thai không dường như là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với tình trạng thai chết lưu không rõ nguyên nhân hoặc giảm khả năng sinh sản trong tương lai. (Xem ‘Thai chết lưu không rõ nguyên nhân’ và ‘Giảm khả năng sinh sản’ ở dưới.)