Chấn thương đầu kín nhẹ ở trẻ em (≥2 tuổi): Đặc điểm lâm sàng và đánh giá

TÓM TẮT

Cơ sở lý luận – Chấn thương sọ não kín nhẹ thường gặp ở trẻ em và điển hình là không gây tổn thương não hay để lại di chứng lâu dài. Tuy nhiên, một số ít trẻ dù có tổn thương ban đầu dường như nhẹ nhưng có thể mắc chấn thương sọ não mức độ lâm sàng quan trọng (ciTBI), đòi hỏi phải theo dõi kéo dài hoặc can thiệp cấp cứu như chăm sóc hỗ trợ tích cực hoặc phẫu thuật thần kinh. (Xem ‘Cơ sở lý luận’‘Định nghĩa’ ở dưới.)

Dịch tễ học – Ở trẻ từ hai tuổi trở lên có chấn thương sọ não kín nhẹ và kết quả khám thần kinh bình thường, khoảng 3 đến 7% có tổn thương sọ não (TBI) ghi nhận trên CT, khoảng 1% là ciTBI, và 0,1 đến 0,6% cần can thiệp phẫu thuật thần kinh. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Đánh giá – Lâm sàng cần thực hiện khai thác bệnh sử và thăm khám thực thể kỹ lưỡng ở trẻ chấn thương sọ não kín nhẹ, đặc biệt lưu ý các dấu hiệu lâm sàng gợi ý ciTBI. (Xem ‘Đánh giá’ ở dưới.)

Quy tắc quyết định lâm sàng PECARN – Trẻ trên hai tuổi có chấn thương sọ não kín nhẹ có thể được phân loại nhóm nguy cơ cao, trung bình hoặc thấp đối với ciTBI dựa trên các đặc điểm lâm sàng. Chúng tôi khuyến cáo rằng các quyết định đánh giá, đặc biệt là việc chỉ định chẩn đoán hình ảnh thần kinh và theo dõi, nên dựa trên quy tắc quyết định lâm sàng nguy cơ thấp của Mạng lưới Nghiên cứu Ứng dụng Chăm sóc Cấp cứu Nhi khoa (PECARN) thay vì các quy tắc khác hoặc chỉ dựa vào nhận định lâm sàng đơn thuần. Bảng sau tóm tắt các tiêu chuẩn cho nhóm nguy cơ cao, trung bình, thấp và quyết định chẩn đoán hình ảnh tương ứng (bảng 3). (Xem ‘Quy tắc quyết định lâm sàng’‘Nhận định lâm sàng’ ở dưới.)

Tiếp cận chẩn đoán hình ảnh thần kinh – Quy trình tiếp cận chẩn đoán hình ảnh thần kinh cho trẻ từ hai tuổi trở lên có chấn thương sọ não kín nhẹ dựa trên các phát hiện lâm sàng được trình bày trong bảng (bảng 3). Những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc ciTBI cần được chẩn đoán hình ảnh thần kinh sớm. Những bệnh nhân có nguy cơ trung bình có thể được chẩn đoán hình ảnh hoặc theo dõi tùy theo tình huống lâm sàng cụ thể; chỉ định chẩn đoán hình ảnh nếu các triệu chứng kéo dài, trầm trọng hơn hoặc xuất hiện triệu chứng mới trong quá trình theo dõi. Những trường hợp nguy cơ thấp với ciTBI không cần chẩn đoán hình ảnh thần kinh. (Xem ‘Tiếp cận’ ở dưới.)

Cách tiếp cận này không áp dụng cho trẻ nghi ngờ có chấn thương sọ não do bị ngược đãi (xem “Ngược đãi trẻ em: Đánh giá và chẩn đoán chấn thương sọ não do ngược đãi ở trẻ nhũ nhi và trẻ em”). Tất cả những bệnh nhân này đều cần được chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Tương tự, trẻ có dấu hiệu tăng áp lực nội sọ và/hoặc dấu hiệu thần kinh khu trú sau chấn thương sọ não kín dường như nhẹ cần được chẩn đoán hình ảnh thần kinh cấp cứu. (Xem ‘Tiếp cận’ ở dưới.)

Chỉ định cận lâm sàng khuyến cáo – Cả CT scanner sọ não không tiêm thuốc cản quang và MRI não đều có độ nhạy cần thiết để phát hiện ciTBI. CT sọ não có thể thực hiện nhanh chóng tại hầu hết các bệnh viện. Mặc dù MRI không gây nhiễm xạ, nhưng phương pháp này ít phổ biến hơn ở nhiều cơ sở y tế, có thể dẫn đến chậm trễ trong điều trị và có thể cần dùng thuốc an thần do thời gian quét kéo dài. (Xem ‘Chỉ định cận lâm sàng khuyến cáo’ ở dưới.)

Xử trí – Các khuyến cáo xử trí cụ thể dựa trên kết quả đánh giá được trình bày riêng. (Xem “Chấn thương sọ não nhẹ ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Xử trí”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here