Cơ chế tăng khả năng gây xơ vữa
Khả năng gây xơ vữa của các hạt LDL nhỏ liên quan đến cả cơ chế trực tiếp và gián tiếp. Các cơ chế trực tiếp bao gồm:
- Tăng tính nhạy cảm với quá trình oxy hóa 62,63
- Giảm khả năng thanh thải qua thụ thể LDL tại gan, đồng thời tăng gắn kết không phụ thuộc thụ thể LDL tại thành động mạch 64,65.
- Rối loạn chức năng nội mạc độc lập với nồng độ của các lipid khác 66
Các yếu tố này có thể tương tác với nhau. Việc giảm ái lực gắn kết với thụ thể LDL làm kéo dài thời gian bán hủy của các hạt LDL nhỏ, đậm đặc trong tuần hoàn, từ đó làm tăng khả năng xảy ra biến đổi oxy hóa và sau đó được hấp thu bởi các thụ thể scavenger của đại thực bào 65.
Các mối liên hệ gián tiếp giữa LDL nhỏ, đậm đặc và nguy cơ xơ vữa bao gồm:
- Mối tương quan nghịch với HDL-C (hình 2)
- Là dấu chỉ điểm cho sự tích tụ của các hạt triglyceride remnant gây xơ vữa 67
- Kháng insulin 44
TÓM TẮT
Hai rối loạn di truyền gây ra mức LDL-cholesterol cực thấp đã được xác định. Hai tình trạng này là “abetalipoproteinemia” và “hypobetalipoproteinemia”, được gọi chung là “tình trạng giảm betalipoprotein huyết gia đình” (familial hypobetalipoproteinemia). Các rối loạn này được thảo luận ở phần khác. (Xem “LDL-cholesterol thấp: Nguyên nhân và phương pháp đánh giá”.)
SÀNG LỌC
Do tần suất xuất hiện của bệnh lý gia đình và các nguy cơ liên quan, phân tích lipid sàng lọc được khuyến cáo cho những người thân trực hệ (độ một) của bệnh nhân nhồi máu cơ tim (đặc biệt là nhồi máu cơ tim sớm). Quá trình sàng lọc bắt đầu với bộ chỉ số lipid máu tiêu chuẩn; nếu kết quả bình thường, cần cân nhắc thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu hơn tùy thuộc vào các bất thường được xác định ở thành viên trong gia đình, chẳng hạn như đo nồng độ lipoprotein(a), apolipoprotein B và A-I; khoảng 25% bệnh nhân mắc bệnh mạch vành sớm có bộ chỉ số tiêu chuẩn bình thường nhưng lại có bất thường ở một trong các yếu tố này. Nội dung chi tiết hơn về sàng lọc rối loạn lipid máu được trình bày ở phần khác. (Xem “Sàng lọc rối loạn lipid ở người trưởng thành”.)
CHỈ ĐỊNH CHUYỂN TUYẾN
Những bệnh nhân có mức LDL-C hoặc non-LDL-C tăng dai dẳng dù đã sử dụng statin liều tối đa có thể dung nạp được nên được chuyển đến chuyên gia về lipid.
TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ
Giới thiệu – Tăng LDL-cholesterol (LDL-C) là tình trạng phổ biến trong cộng đồng. Hầu hết các cá nhân tăng LDL-C có một hoặc nhiều bất thường về di truyền hơn là do nguyên nhân thứ phát (như bệnh gan hoặc bệnh thận). (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Di truyền học của tăng LDL-C – Hội chứng lâm sàng của tăng cholesterol máu gia đình là kiểu hình lâm sàng điển hình nhất kết quả từ việc di truyền một bất thường đơn gen trong chuyển hóa LDL. Tăng lipid máu phối hợp gia đình và tăng cholesterol máu đa gen là những ví dụ về các hội chứng có di truyền đa gen. (Xem phần ‘Di truyền học của tình trạng tăng LDL-C’ ở dưới.)
Tăng lipid máu phối hợp gia đình (FCHL) – Đây là một rối loạn lipid tương đối phổ biến. Statin thường là thuốc đầu tay được chỉ định để điều trị FCHL. (Xem phần ‘Tăng lipid máu gia đình phối hợp’ ở dưới.)
Tăng cholesterol máu đa gen – Cơ chế di truyền của tăng cholesterol máu đa gen hiện chưa được hiểu rõ, nhưng có khả năng liên quan đến nhiều bất thường trong chuyển hóa LDL. Statin thường là thuốc đầu tay được chỉ định để điều trị tăng cholesterol máu đa gen. (Xem phần ‘Tăng cholesterol máu đa gen’ ở dưới.)