TÓM TẮT
Tầm quan trọng ‒ Sinh non (tức là sinh trước 37 tuần tuổi thai [GA]) là một yếu tố góp phần vào khoảng một phần ba tổng số ca tử vong ở trẻ sơ sinh tại Hoa Kỳ. Các biến chứng của sinh non là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ tử vong và bệnh tật cao hơn ở trẻ sinh non so với trẻ sinh đủ tháng. Nguy cơ xảy ra biến chứng tăng lên khi tuổi thai và cân nặng khi sinh (BW) càng thấp. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biến chứng ngắn hạn – Các biến chứng ngắn hạn thường gặp nhất bao gồm:
Hạ thân nhiệt xảy ra do trẻ sinh non mất nhiệt nhanh vì diện tích bề mặt cơ thể tương đối lớn và khả năng sinh nhiệt kém. Hạ thân nhiệt có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong và ở những trẻ sống sót, có thể gây xuất huyết não thất (IVH), suy hô hấp, xuất huyết và rối loạn chuyển hóa (ví dụ: hạ đường huyết hoặc nhiễm toan). (Xem thêm phần ‘Yếu tố nguy cơ và tác động bất lợi’ ở dưới.)
Các biện pháp phòng ngừa hạ thân nhiệt tại phòng sinh và đơn vị hồi sức tích cực sơ sinh (NICU) bao gồm (xem thêm phần ‘Phòng ngừa hạ thân nhiệt’ ở dưới):
- Duy trì nhiệt độ phòng sinh tối thiểu 26°C
- Lau khô trẻ thật kỹ ngay sau khi sinh
- Loại bỏ tất cả các khăn ướt
- Khuyến khích tiếp xúc da kề da đối với trẻ sơ sinh khỏe mạnh và ổn định
- Sử dụng đèn sưởi bức xạ đã được làm ấm trước nếu cần hồi sức
- Đối với trẻ sơ sinh có tuổi thai < 30 tuần hoặc cân nặng < 1500 g, các biện pháp bổ sung tại phòng sinh bao gồm sử dụng màng bọc nhựa, mũ và đệm sưởi
- Khi vận chuyển trẻ sinh non, nên sử dụng lồng ấp kín
- Khi đã vào NICU, trẻ sinh non nên được chăm sóc trong lồng ấp hoặc dưới đèn sưởi bức xạ
- Trẻ sơ sinh cần hỗ trợ hô hấp nâng cao nên được cung cấp hỗn hợp khí có làm ấm và làm ẩm
Biến chứng hô hấp do sinh non bao gồm:
- Hội chứng suy hô hấp (RDS) (xem “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sinh non: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”)
- Loạn sản phế quản phổi (BPD) (xem “Loạn sản phế quản phổi (BPD): Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”)
- Ngưng thở ở trẻ sinh non (xem “Cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán ngưng thở ở trẻ sinh non”)
Biến chứng tim mạch bao gồm:
- Còn ống động mạch (PDA) (xem “Còn ống động mạch (PDA) ở trẻ sinh non: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”)
- Huyết áp thấp (xem “Đánh giá và xử trí huyết áp thấp ở trẻ sinh cực non”)
- Sốc (xem “Sốc sơ sinh: Nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng và đánh giá”)
Các biến chứng khác bao gồm:
- Xuất huyết não thất (xem “Xuất huyết chất nền mầm và xuất huyết não thất (GMH-IVH) ở trẻ sơ sinh: Yếu tố nguy cơ, đặc điểm lâm sàng, tầm soát và chẩn đoán”)
- Rối loạn cân bằng glucose dẫn đến hạ hoặc tăng đường huyết (xem “Cơ chế bệnh sinh, tầm soát và chẩn đoán hạ đường huyết sơ sinh” và “Tăng đường huyết sơ sinh”)
- Viêm ruột hoại tử (xem “Viêm ruột hoại tử sơ sinh: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”)
- Nhiễm trùng do vi khuẩn và nấm (xem “Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán ở trẻ sinh trước 35 tuần tuổi thai” và “Nhiễm nấm Candida ở trẻ sơ sinh: Dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”)
- Khó khăn trong nuôi dưỡng và tăng trưởng kém (xem “Khó khăn trong nuôi dưỡng đường miệng ở trẻ sơ sinh do rối loạn mút và nuốt” và “Nuôi con bằng sữa mẹ ở trẻ sinh non” và “Các vấn đề về tăng trưởng và nuôi dưỡng ở trẻ sau xuất viện từ NICU” và “Tiếp cận nuôi dưỡng đường tiêu hóa ở trẻ sinh non”)
- Thiếu máu ở trẻ sinh non (xem “Thiếu máu ở trẻ sinh non (AOP)”)
- Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (xem “Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP): Yếu tố nguy cơ, phân loại và tầm soát”)