TÓM TẮT
Dịch tễ học – Tỷ lệ hiện mắc của rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) trong thời kỳ mang thai và sau sinh thay đổi tùy thuộc vào quần thể nghiên cứu, cũng như phương pháp và tiêu chí sàng lọc hoặc chẩn đoán được sử dụng. Theo các bằng chứng dịch tễ học, tỷ lệ hiện mắc OCD ở phụ nữ mang thai và sau sinh cao hơn so với tỷ lệ ước tính trong quần thể chung. (Xem thêm Dịch tễ học ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng và diễn tiến
- Triệu chứng – OCD trong giai đoạn chu sinh đặc trưng bởi các ý nghĩ, hình ảnh hoặc xung năng xâm nhập tái diễn gây ra sự lo âu hoặc phiền muộn rõ rệt, và/hoặc các hành vi hoặc hoạt động tâm trí lặp đi lặp lại mà người bệnh cảm thấy buộc phải thực hiện để kiềm chế các ám ảnh. Những triệu chứng này gây tốn thời gian, có thể gây ra sự phiền muộn đáng kể hoặc dẫn đến suy giảm chức năng trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực hoạt động quan trọng khác. (Xem thêm Triệu chứng ở dưới.)
- Diễn tiến – Diễn tiến của OCD trong thời kỳ mang thai và sau sinh rất đa dạng. Các nghiên cứu hồi cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân diễn tiến xấu đi, cải thiện hoặc không thay đổi là khác nhau. (Xem thêm Diễn tiến lâm sàng trong giai đoạn chu sinh ở dưới.)
- Kết cục sản khoa – OCD có thể liên quan đến việc tăng nhẹ nguy cơ cao huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, vỡ màng ối sớm, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và sinh non. (Xem thêm Kết cục sản khoa ở dưới.)
- Nguy cơ gây hại cho trẻ sơ sinh – Các nghiên cứu báo cáo rằng những ý nghĩ xâm nhập về việc gây hại cho trẻ không dự báo trước các hành vi gây hại thực tế đối với trẻ. (Xem thêm Nguy cơ gây hại cho trẻ sơ sinh ở dưới.)
Mặc dù không thấy tăng nguy cơ gây hại cố ý, nhưng tổn thương vẫn có thể xảy ra do sự bỏ bê trẻ hoặc các hành vi khác. Trong những trường hợp lâm sàng lo ngại về an toàn của bệnh nhân hoặc trẻ nhỏ, cần phải can thiệp ở các cấp độ chăm sóc cao hơn hoặc thông qua các cơ quan xã hội.
Sàng lọc và đánh giá – Hiện chưa có hướng dẫn hoặc tiêu chuẩn chăm sóc cụ thể về việc sàng lọc OCD trong giai đoạn chu sinh. Chúng tôi sàng lọc những đối tượng chưa có chẩn đoán OCD trước đó bằng một công cụ sàng lọc ngắn gọn gồm một câu hỏi. (Xem thêm Sàng lọc và Đánh giá ở dưới.)
Chúng tôi thực hiện đánh giá tâm thần để chẩn đoán OCD và các rối loạn đồng mắc khác như trầm cảm, lo âu và loạn thần sau sinh cho tất cả những trường hợp có kết quả sàng lọc OCD dương tính. Các tiêu chuẩn chẩn đoán OCD đã được cung cấp ở phần trên. (Xem thêm Chẩn đoán ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Phân biệt OCD sau sinh với loạn thần sau sinh là một điểm mấu chốt quan trọng trong lâm sàng. Trong loạn thần sau sinh, trái ngược với OCD, người bệnh thường mất khả năng nhận thức (insight) và không có xu hướng kháng cự lại các ý nghĩ đó. Các bà mẹ mắc loạn thần sau sinh có nguy cơ gây hại cho bản thân và con cái cao hơn so với những người mắc OCD. (Xem thêm Chẩn đoán phân biệt ở dưới.)
Điều trị – Đối với hầu hết bệnh nhân OCD trong thời kỳ mang thai hoặc sau sinh, chúng tôi đề xuất liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) (Khuyến cáo 2C). Quản lý bằng thuốc là một lựa chọn thay thế hợp lý cho những người từ chối trị liệu tâm lý hoặc khi không có điều kiện tiếp cận trị liệu tâm lý. (Xem thêm ‘Điều trị ban đầu cho hầu hết bệnh nhân’ ở dưới.)
Đối với những bệnh nhân có triệu chứng nặng hơn (ví dụ: suy giảm chức năng hoặc cần giảm triệu chứng tức thời), hoặc những người có kèm theo trầm cảm hoặc lo âu, chúng tôi đề xuất khởi đầu điều trị phối hợp cả CBT và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRI) thay vì sử dụng đơn trị liệu (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Vai trò của liệu pháp dược lý’ ở dưới.)
Đối với những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp phối hợp ban đầu giữa tâm lý và thuốc, chúng tôi lựa chọn chuyển đổi thuốc hoặc điều trị tăng cường tùy thuộc vào mức độ đáp ứng với thuốc ban đầu. Có thể cân nhắc áp dụng liệu pháp CBT chuyên sâu hơn. (Xem thêm ‘Những bệnh nhân kháng điều trị phối hợp’ ở dưới.)
Điều trị bằng thuốc trong thời kỳ mang thai có thể cần liều cao hơn, do những thay đổi sinh lý khi mang thai làm giảm nồng độ thuốc trong huyết thanh. (Xem thêm ‘Quản lý tác dụng phụ và cân nhắc về liều dùng trong thai kỳ’ ở dưới.)