TÓM TẮT
Xét nghiệm di truyền là lựa chọn chẩn đoán hàng đầu, do phần lớn các trường hợp hội chứng thận hư bẩm sinh (CNS) có nguyên nhân từ các biến thể di truyền và thường không đáp ứng với liệu pháp ức chế miễn dịch. Việc tầm soát các gen NPHS1, NPHS2, WT1 và LAMB2 giúp xác định các bất thường di truyền tiềm ẩn trong hơn 80% trường hợp 60,122. Kết quả sinh thiết thận có thể không đặc hiệu và không giúp xác định chính xác căn nguyên, đặc biệt là đối với các nguyên nhân di truyền.
Các biểu hiện ngoài thận đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, đặc biệt là trong các trường hợp có hội chứng. Thăm khám thần kinh, bao gồm cả chẩn đoán hình ảnh não, có thể phát hiện các bất thường về hồi não hoặc teo tiểu não gợi ý hội chứng Galloway-Mowat, teo tiểu não và đại não gợi ý thiếu hụt CoQ10, hoặc giãn não thất ở những bệnh nhân có biến thể CRB2 122. Bất thường cơ quan sinh dục ở trẻ nam gợi ý biến thể WT1 và hướng tới chẩn đoán hội chứng Denys-Drash. Ngoài ra, các đặc điểm hình thái bất thường hoặc dị tật nhãn khoa cũng là những dấu hiệu gợi ý nguyên nhân di truyền.
TÓM TẮT
Tổng quan – Hội chứng thận hư khởi phát lúc sinh hoặc trong vòng ba tháng đầu đời được định nghĩa là hội chứng thận hư bẩm sinh (CNS). Đa số trẻ mắc CNS có căn nguyên di truyền và tiên lượng điều trị kém. (Xem mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Phần lớn các trường hợp CNS là do biến thể của các gen sau:
- NPHS1: mã hóa nephrin (một thành phần then chốt của màng vách chân tế bào có chân), gây ra CNS thể Phần Lan. (Xem mục ‘Hội chứng thận hư bẩm sinh thể Phần Lan’ ở dưới.)
- NPHS2: mã hóa podocin (một protein tương tác với nephrin tại màng vách chân), gây ra hội chứng thận hư kháng steroid gia đình. (Xem mục ‘Hội chứng thận hư bẩm sinh và các biến thể NPHS2’ ở dưới.)
- WT1: mã hóa protein ức chế khối u điều hòa phiên mã (một protein tham gia vào sự phát triển của thận và tuyến sinh dục), gây ra hội chứng Denys-Drash. (Xem mục ‘Xơ hóa vùng gian mạch lan tỏa trong hội chứng Denys-Drash’ ở dưới.)
Các nguyên nhân khác của CNS bao gồm những rối loạn di truyền ít gặp hơn và các nguyên nhân thứ phát như nhiễm trùng (ví dụ: giang mai hoặc toxoplasmosis) (bảng 1) hoặc các rối loạn miễn dịch. (Xem mục ‘Các nguyên nhân di truyền khác’ và ‘Các nguyên nhân không do di truyền’ ở dưới.)