TÓM TẮT
Dịch tễ học – Trong nhóm nữ thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ, tỷ lệ thiếu sắt lên đến khoảng 16%. Ở nam thanh thiếu niên, tỷ lệ này dưới 1%. Các yếu tố nguy cơ gây thiếu sắt bao gồm: mất máu kinh nhiều (> 80 mL/tháng), chế độ ăn chay hoặc thuần chay, thiếu cân hoặc suy dinh dưỡng, tập luyện sức bền, hiến máu hoặc mắc bệnh mạn tính (bảng 1). (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Nhu cầu sắt khuyến nghị – Nhu cầu khuyến nghị (RDA) đối với sắt nguyên tố là (xem ‘Nhu cầu sắt’ ở dưới):
- Trẻ em từ 9 đến 13 tuổi: 8 mg/ngày
- Thanh thiếu niên từ 14 đến 18 tuổi: 11 mg/ngày đối với nam và 15 mg/ngày đối với nữ
- Thanh thiếu niên mang thai: 27 mg/ngày
Đặc điểm lâm sàng
Kết quả xét nghiệm – Các biểu hiện xét nghiệm của tình trạng thiếu sắt diễn ra qua nhiều giai đoạn (bảng 2), đặc trưng bởi mức độ thiếu máu tăng dần. (Xem ‘Các giai đoạn thiếu sắt’ ở dưới.)
Triệu chứng lâm sàng – Nhiều thanh thiếu niên thiếu sắt không có triệu chứng hoặc có các triệu chứng không điển hình, khó nhận biết như mệt mỏi, đau đầu, dễ kích động, suy nhược và giảm khả năng gắng sức ở các mức độ khác nhau. Ngoài ra, thiếu sắt có thể làm suy giảm chức năng nhận thức, khả năng tập trung và khả năng vận động. Đôi khi, thiếu sắt gây ra hội chứng pica (đặc biệt là thèm ăn đá). (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Sàng lọc – Sàng lọc thiếu sắt là một phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe thời kỳ thanh thiếu niên, bao gồm (xem ‘Đối tượng sàng lọc’ ở dưới):
- Sàng lọc yếu tố nguy cơ – Tất cả thanh thiếu niên nên được đánh giá hàng năm về các yếu tố nguy cơ hoặc triệu chứng thiếu sắt, bao gồm: chế độ ăn thiếu sắt, mất máu kinh nhiều và/hoặc hội chứng pica (bảng 1). Cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc nếu phát hiện bất kỳ yếu tố nguy cơ nào.
- Sàng lọc xét nghiệm cho nữ giới – Đối với tất cả nữ giới, chúng tôi đề nghị sàng lọc xét nghiệm đại trà ít nhất một lần trong thời kỳ thanh thiếu niên, ít nhất một năm sau khi có kinh lần đầu và lý tưởng nhất là trước 14 tuổi (Khuyến cáo 2C).
- Xét nghiệm sàng lọc – Phương pháp sàng lọc lý tưởng bao gồm cả tổng phân tích tế bào máu (CBC) và định lượng ferritin huyết thanh để phân loại bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt (IDA) hoặc thiếu sắt nhưng chưa thiếu máu. Trong hầu hết các bối cảnh lâm sàng, phương pháp sàng lọc đơn giản và hiệu quả về chi phí nhất là thực hiện CBC, bao gồm đo nồng độ hemoglobin, hematocrit, thể tích trung bình hồng cầu (MCV) và độ phân bố kích thước hồng cầu (RDW). (Xem ‘Cách sàng lọc’ ở dưới.)
Chẩn đoán và xử trí ban đầu
Chẩn đoán sơ bộ – Ở những thanh thiếu niên khỏe mạnh, chẩn đoán sơ bộ IDA có thể được đưa ra dựa trên các yếu tố nguy cơ lâm sàng khi có nồng độ hemoglobin thấp (thường < 12 g/dL đối với nữ thanh thiếu niên không mang thai và nam < 15 tuổi; hoặc < 13 g/dL đối với nam > 15 tuổi) và hồng cầu nhỏ (MCV < 80). Nồng độ ferritin huyết thanh thấp (thường được định nghĩa là dưới 15 $\mu$g/L) sẽ hỗ trợ thêm cho chẩn đoán.
Việc biện giải các chỉ số sắt phải đặt trong bối cảnh lâm sàng đầy đủ, vì hầu hết các chỉ số này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác ngoài tình trạng dự trữ sắt (bảng 3) và để phân biệt giữa IDA với các nguyên nhân gây thiếu máu hồng cầu nhỏ khác (bảng 4). Ferritin huyết thanh là một chất phản ứng pha cấp, do đó nồng độ có thể tăng trong tình trạng viêm cấp hoặc mạn tính, hoặc trong bệnh lý gan. Giá trị ferritin huyết thanh thấp luôn phù hợp với tình trạng thiếu sắt. (Xem ‘Đánh giá và chẩn đoán sơ bộ’ ở dưới.)
Điều trị thử – Đối với bệnh nhân chẩn đoán sơ bộ IDA, chúng tôi đề nghị điều trị thử bằng sắt uống thay vì chỉ điều chỉnh chế độ ăn (Khuyến cáo 2C). Liều khuyến nghị là 65 đến 130 mg sắt nguyên tố một lần mỗi ngày (Khuyến cáo 2C). Liều trong khoảng này thường có hiệu quả, cải thiện sự tuân thủ và ít tác dụng phụ hơn so với liều cao hoặc chia nhiều lần trong ngày. Bổ sung sắt cũng phù hợp cho những bệnh nhân thiếu sắt (ferritin huyết thanh thấp) nhưng chưa thiếu máu. (Xem ‘Liệu pháp sắt uống’ ở dưới.)
Cần theo dõi để đảm bảo đáp ứng với việc bổ sung sắt, đồng thời giúp xác nhận chẩn đoán thiếu sắt. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)