Polyp nội mạc tử cung

TÓM TẮT

Mô bệnh học – Polyp nội mạc tử cung là sự tăng sinh quá mức của các tuyến và mô đệm nội mạc, tạo thành một khối lồi ra từ bề mặt nội mạc tử cung (lớp niêm mạc tử cung); đây là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây xuất huyết đường sinh dục bất thường ở cả bệnh nhân tiền mãn kinh và hậu mãn kinh (bảng 1). (Xem phần ‘Giới thiệu’‘Mô bệnh học’ ở dưới.)

Tỷ lệ hiện mắc – Trong số các polyp được chẩn đoán lâm sàng, tỷ lệ hiện mắc ở bệnh nhân hậu mãn kinh cao hơn so với bệnh nhân tiền mãn kinh. Tỷ lệ polyp nội mạc tử cung cũng cao hơn ở những bệnh nhân được sinh thiết nội mạc tử cung hoặc phẫu thuật cắt tử cung, và những bệnh nhân vô sinh đang điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). (Xem phần ‘Tỷ lệ hiện mắc’ ở dưới.)

Nguy cơ ác tính – Đại đa số polyp nội mạc tử cung là lành tính, tuy nhiên một số trường hợp có thể là ác tính. Polyp nội mạc tử cung có khả năng ác tính cao hơn ở bệnh nhân hậu mãn kinh và những bệnh nhân có triệu chứng xuất huyết. Phương pháp điều trị polyp nội mạc tử cung ác tính tương tự như điều trị ung thư nội mạc tử cung. (Xem phần ‘Nguy cơ ác tính’ ở dưới và “Tổng quan về ung thư nội mạc tử cung có thể phẫu thuật”.)

Biểu hiện lâm sàng – Mặc dù hầu hết polyp nội mạc tử cung gây xuất huyết, nhưng một số trường hợp có thể không triệu chứng hoặc phát hiện tình cờ (ví dụ: qua chẩn đoán hình ảnh vùng chậu được thực hiện vì chỉ định khác, ghi nhận trên kết quả tế bào học cổ tử cung, hoặc quan sát thấy khi khám thực thể). (Xem phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá chẩn đoán

  • Siêu âm đường âm đạo (TVUS) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh lựa chọn hàng đầu để đánh giá bệnh nhân nghi ngờ có polyp. (Xem phần ‘Chẩn đoán hình ảnh vùng chậu’ ở dưới.)
  • Siêu âm bơm nước buồng tử cung (SIS) hoặc soi buồng tử cung chẩn đoán có thể được sử dụng để chẩn đoán hình ảnh bổ sung cho những bệnh nhân chọn lọc có kết quả TVUS không rõ ràng, hình ảnh nội mạc tử cung không đầy đủ, hoặc những trường hợp dự định theo dõi chờ đợi. (Xem phần ‘Chẩn đoán hình ảnh vùng chậu’ ở dưới.)
  • Sinh thiết nội mạc tử cung (ví dụ: sinh thiết nội mạc, nạo buồng tử cung [D&C]) có thể được thực hiện kết hợp với chẩn đoán hình ảnh vùng chậu và có khả năng chẩn đoán tình trạng tăng sinh hoặc ác tính đi kèm. Tuy nhiên, vì các thủ thuật này có thể không lấy được toàn bộ tổn thương, nên không được sử dụng đơn độc ở bệnh nhân có polyp nội mạc tử cung. (Xem phần ‘Vai trò của sinh thiết nội mạc tử cung’‘Tăng sinh đi kèm’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Chẩn đoán xác định polyp nội mạc tử cung dựa trên kết quả mô bệnh học của bệnh phẩm, thường được thu thập trong quá trình phẫu thuật cắt polyp. Đánh giá mô bệnh học cũng giúp loại trừ khả năng ác tính. Chẩn đoán sơ bộ polyp nội mạc tử cung có thể đạt độ tin cậy khá cao dựa trên các dấu hiệu điển hình trên chẩn đoán hình ảnh; tuy nhiên, không thể loại trừ ác tính nếu chỉ dựa vào hình ảnh. (Xem phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Quản lý (bảng 2)

Bệnh nhân có xuất huyết – Đối với bệnh nhân tiền và hậu mãn kinh có polyp nội mạc tử cung kèm theo xuất huyết (ví dụ: xuất huyết tử cung bất thường [AUB], xuất huyết sau mãn kinh [PMB]), chúng tôi đề nghị phẫu thuật cắt polyp (Khuyến cáo 2C). Mục tiêu của việc cắt polyp trong trường hợp này là vừa để cải thiện triệu chứng xuất huyết, vừa để tầm soát ác tính, vì các polyp có triệu chứng có khả năng ác tính cao hơn so với polyp không triệu chứng. (Xem phần ‘Bệnh nhân có xuất huyết’ ở dưới.)

Bệnh nhân vô sinh, polyp kích thước lớn hoặc đa polyp, hoặc có yếu tố nguy cơ ung thư – Chúng tôi cũng đề nghị phẫu thuật cắt polyp cho bệnh nhân tiền và hậu mãn kinh có bất kỳ đặc điểm nào sau đây (Khuyến cáo 2C) (xem phần ‘Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ ung thư, polyp lớn, đa polyp hoặc vô sinh’ ở dưới):

  • Đa polyp
  • Polyp sa ra ngoài
  • Yếu tố nguy cơ tăng sinh hoặc ung thư nội mạc tử cung (bảng 3)
  • Kích thước polyp lớn (ví dụ: đường kính >1,5 cm)
  • Vô sinh

Các bệnh nhân khác – Việc quản lý bệnh nhân tiền và hậu mãn kinh có polyp nội mạc tử cung nhưng không xuất huyết hoặc không có chỉ định cắt bỏ khác hiện chưa rõ ràng. Mặc dù nhiều bệnh nhân trong nhóm này có thể được theo dõi chờ đợi, nhưng việc tư vấn cần được cá thể hóa và những bệnh nhân vẫn lo ngại về nguy cơ ác tính có thể lựa chọn phẫu thuật cắt bỏ. (Xem phần ‘Bệnh nhân không xuất huyết hoặc không có chỉ định cắt bỏ khác’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here