TÓM TẮT
- Sinh học của Leukotriene
Leukotriene là các chất trung gian gây viêm có nguồn gốc từ acid arachidonic, đóng vai trò trong cơ chế bệnh sinh của hen suyễn. Các leukotriene cysteinyl (CysLTs) bao gồm LTC4, LTD4 và LTE4, gây ra các tác động thúc đẩy hen suyễn như co thắt phế quản kéo dài, tăng tiết nhầy và phù niêm mạc đường thở (hình 1). (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ và ‘Sinh học của Leukotriene’ ở dưới.)
- Các thuốc kháng leukotriene hiện có
Các thuốc kháng leukotriene (còn gọi là thuốc điều hòa leukotriene) ức chế tác dụng của leukotriene bằng cách phong tỏa thụ thể CysLT1 (ví dụ: montelukast, zafirlukast, pranlukast) hoặc ngăn chặn quá trình tổng hợp thông qua ức chế 5-lipoxygenase (ví dụ: zileuton) (hình 1). Liều dùng thông thường của các thuốc này được cung cấp trong bảng (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Các thuốc kháng leukotriene hiện có’ ở dưới.)
- Thử nghiệm liệu pháp kháng leukotriene trong điều trị hen
Một số bệnh nhân đáp ứng rất tốt với thuốc kháng leukotriene, trong khi những người khác không đáp ứng; các đặc điểm lâm sàng hiện tại chưa thể dự báo chính xác khả năng đáp ứng trên từng cá thể. Để đánh giá hiệu quả của thuốc kháng leukotriene đối với một bệnh nhân cụ thể, chúng tôi thường tiến hành thử nghiệm điều trị từ một đến hai tháng, bất kể lựa chọn loại thuốc nào và dù thuốc được dùng làm liệu pháp bước một hay liệu pháp phối hợp bổ sung. (Xem thêm phần ‘Thử nghiệm liệu pháp’ ở dưới.)
- Hiệu quả tương đối
Thuốc kháng leukotriene có hiệu quả khi dùng đơn trị liệu ở một số bệnh nhân hen suyễn dai dẳng mức độ nhẹ đến trung bình, mặc dù hiệu quả trung bình thấp hơn so với glucocorticoid hít (ICS). Do đó, ICS vẫn là lựa chọn ưu tiên cho thuốc kiểm soát bước một, trong khi thuốc kháng leukotriene được xem là phương án thay thế, đặc biệt đối với những bệnh nhân gặp khó khăn trong việc tuân thủ điều trị hoặc kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít. (Xem thêm phần ‘Hiệu quả tương đối’ ở dưới, cùng mục “Bắt đầu điều trị và theo dõi hen ở trẻ vị thành niên và người lớn” và “Theo dõi và điều chỉnh liều điều trị hen ở trẻ vị thành niên và người lớn”.)
Đối với những bệnh nhân hen không kiểm soát tốt bằng ICS, các thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài (LABA) nhìn chung mang lại sự cải thiện chức năng phổi vượt trội hơn so với thuốc kháng leukotriene. Tuy nhiên, ưu thế của LABA so với thuốc kháng leukotriene ở các tiêu chí đánh giá khác là không quá rõ rệt. (Xem thêm phần ‘So sánh với thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài’ và ‘Lợi ích phối hợp với glucocorticoid hít’ ở dưới.)
- Lợi ích thực tế và trường hợp sử dụng
Ở những bệnh nhân có đáp ứng, thuốc kháng leukotriene giúp cải thiện chức năng phổi, nâng cao chất lượng cuộc sống liên quan đến triệu chứng, giảm tần suất xuất hiện các đợt cấp và giảm nhu cầu sử dụng thuốc beta-agonist cắt cơn. Vì vậy, nhóm thuốc này hữu ích cho những bệnh nhân không dung nạp, không muốn sử dụng hoặc không đáp ứng với ICS. Ngoài ra, mức độ tuân thủ đối với liệu pháp đường uống thường cao hơn so với thuốc hít. (Xem thêm phần ‘Sử dụng làm liệu pháp kiểm soát ban đầu’ và ‘Lợi ích thực tế’ ở dưới.)
- Sử dụng trong các bệnh lý liên quan
Thuốc kháng leukotriene có khả năng bảo vệ cao chống lại co thắt phế quản do gắng sức (EIB), nhưng thuốc beta-agonist tác dụng ngắn (SABA) thường được ưu tiên hơn vì có thể vừa phòng ngừa vừa cắt cơn co thắt phế quản. Vai trò của thuốc kháng leukotriene trong quản lý bệnh hô hấp nhạy cảm với aspirin (AERD) được thảo luận trong một mục riêng. (Xem thêm phần ‘Các nhóm đối tượng đặc biệt’ ở dưới, cùng mục “Co thắt phế quản do gắng sức” và “Bệnh hô hấp nhạy cảm với aspirin”, phần ‘Thuốc điều hòa leukotriene’.)
- Tác dụng không mong muốn
Các thuốc đối kháng thụ thể leukotriene như montelukast, zafirlukast và pranlukast (không có sẵn tại Hoa Kỳ hoặc Canada) nhìn chung được dung nạp tốt. Tuy nhiên, bác sĩ kê đơn và bệnh nhân cần lưu ý về các rối loạn hành vi và thần kinh tâm thần tiềm tàng khi dùng montelukast. Zileuton có tỷ lệ gặp tác dụng không mong muốn cao hơn, bao gồm viêm gan và tương tác thuốc. (Xem thêm phần ‘Tác dụng không mong muốn’ ở dưới.)