TÓM TẮT
- Yếu tố nguy cơ – Cả yếu tố di truyền và không di truyền đều đóng vai trò trong mức độ nhạy cảm và quá trình diễn tiến của bệnh. Các phân tích di truyền phân tử gợi ý vai trò thiết yếu của các phân tử kháng nguyên bạch cầu người (HLA)-DR và các gene mã hóa cho các thành phần miễn dịch bẩm sinh và thích ứng. Mối liên hệ chặt chẽ nhất là với các gene thuộc vùng HLA-DR, tuy nhiên có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm sắc tộc. Các yếu tố biểu truyền (epigenetic) có thể đóng vai trò điều hòa biểu hiện gene. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ và bệnh sinh’, ‘Yếu tố di truyền’, ‘Gene HLA’ và ‘Các gene không thuộc HLA’ ở dưới.)
- Bệnh sinh – Một chu kỳ kích thích tương hỗ giữa hệ miễn dịch bẩm sinh và thích ứng khiến tình trạng tổn thương và rối loạn chức năng tuyến kéo dài. Tổn thương mô xảy ra thông qua việc kích hoạt các con đường miễn dịch này bởi các lympho bào tại mô tuyến hoặc các vị trí ngoài tuyến, dẫn đến giải phóng các cytokine, bao gồm interferon (IFN)-gamma, interleukin 17 (IL-17), IL-21 và yếu tố kích hoạt tế bào B. Tế bào biểu mô tuyến nước bọt, tuyến lệ và các phân tử bám dính mạch máu tại chỗ đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn sớm. (Xem ‘Cơ chế tổn thương qua trung gian miễn dịch’ ở dưới.)
- Vai trò tiềm năng của nhiễm virus – Nhiều quan sát gợi ý vai trò của virus trong bệnh sinh của bệnh Sjögren (SjD), nhưng chưa có một loại virus đơn nhất nào được xác định là nguyên nhân. Bằng chứng về tình trạng nhiễm virus hiện tại hoặc trong quá khứ có thể được phát hiện ở nhiều bệnh nhân, nhưng không có virus nào được tìm thấy ở nồng độ cao tại các mô đích. Điều này có thể được giải thích là do tác nhân kích thích từ virus đã xảy ra nhiều năm trước khi khởi phát SjD. (Xem ‘Vai trò tiềm năng của nhiễm virus’ ở dưới.)
- Tự kháng thể – SjD đặc trưng bởi sự hiện diện của các tự kháng thể đặc hiệu, vốn là tiêu chuẩn cần thiết cho chẩn đoán theo một số hướng dẫn; bao gồm các kháng thể anti-Ro/SSA và anti-La/SSB. Kháng thể kháng nhân (ANA) xuất hiện ở 90% bệnh nhân, và yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor) hiệu giá cao cũng thường gặp. Các tự kháng thể khác cũng có thể xuất hiện, bao gồm kháng thể kháng thụ thể acetylcholine của tuyến nước bọt. (Xem ‘Tự kháng thể’ và ‘Ro/SSA và La/SSB’ ở dưới.)
- Giải phẫu bệnh – Tổn thương bệnh lý chính của SjD là sự thâm nhiễm lympho bào. Tuyến nước bọt và tuyến lệ là những mô thường tổn thương nhất, nhưng tình trạng thâm nhiễm này phổ biến ở tất cả các cơ quan bị ảnh hưởng, bao gồm cả các vị trí ngoài tuyến, dẫn đến các biểu hiện tại tuyến và các đặc điểm hệ thống ngoài tuyến. Sự thâm nhiễm bao gồm các cụm lympho bào khu trú, bắt đầu từ quanh ống dẫn và lan rộng ra toàn bộ tiểu thùy. Sự di chuyển của lympho bào đến tuyến là đáp ứng với các chemokine, sự bám dính vào các phân tử bám dính mạch máu đặc hiệu và xâm nhập vào các tế bào tuyến, nơi chúng tương tác với các tế bào dendritic và tế bào biểu mô. (Xem ‘Thâm nhiễm lympho bào và bệnh lý tuyến’ ở dưới.)