TÓM TẮT
Tỷ lệ hiện mắc và tiến trình dị ứng (atopic march) – Tỷ lệ hiện mắc dị ứng thực phẩm đạt đỉnh khoảng 6% đến 8% ở trẻ 1 tuổi, sau đó giảm dần. Đến cuối thời thơ ấu, tỷ lệ này còn 3% đến 4% và duy trì ổn định. Trẻ dị ứng thực phẩm có nguy cơ cao tiến triển thành viêm mũi dị ứng và hen suyễn sau này. (Xem thêm ‘Tỷ lệ hiện mắc dị ứng thực phẩm ở trẻ em’ và ‘Mối liên quan với hen suyễn và viêm mũi dị ứng sau này’ ở dưới.)
Diễn tiến tự nhiên – Hầu hết các trường hợp dị ứng thực phẩm ở trẻ em sẽ tự khỏi trong thời thơ ấu hoặc tuổi vị thành niên, tuy nhiên một số loại dị ứng có xu hướng kéo dài, chẳng hạn như dị ứng cá/động vật có vỏ và lạc/hạt cây. (Xem thêm ‘Tổng quan về sự khỏi bệnh’ ở dưới.)
Theo dõi tổng quát trẻ dị ứng thực phẩm – Việc theo dõi tối ưu cho trẻ dị ứng thực phẩm cần sự phối hợp giữa bác sĩ nhi khoa tổng quát (để đánh giá sự tăng trưởng và phát triển) và chuyên gia dị ứng (để hướng dẫn giáo dục, sử dụng thuốc đúng cách và đánh giá lại tình trạng dị ứng), cùng với chuyên gia dinh dưỡng đối với những trẻ dị ứng với nhiều loại thực phẩm thiết yếu trong chế độ ăn. (Xem thêm ‘Theo dõi trẻ dị ứng thực phẩm’ ở dưới.)
Xét nghiệm theo dõi định kỳ – Hầu hết các chuyên gia dị ứng kết hợp thông tin bệnh sử từ các lần tiếp xúc vô tình với các xét nghiệm da và/hoặc xét nghiệm in vitro định kỳ. Ví dụ, một thử thách thực phẩm có thể được chỉ định ngay cả khi nồng độ immunoglobulin E (IgE) đặc hiệu cao nếu bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc vô tình gần đây mà không có phản ứng. Ngược lại, thử thách thực phẩm sẽ không được thực hiện khi IgE đặc hiệu dưới ngưỡng quy định nhưng bệnh nhân vừa có đợt tiếp xúc gây ra phản ứng. (Xem thêm ‘Xét nghiệm theo dõi định kỳ’ ở dưới.)
Thử thách thực phẩm đường uống – Thử thách thực phẩm đường uống (OFC) dưới sự giám sát y khoa của chuyên gia dị ứng được khuyến cáo để xác nhận tình trạng dị ứng thực phẩm đã hết. Lý do là vì các xét nghiệm da và in vitro có thể vẫn cho kết quả dương tính dù bệnh nhân đã đạt được sự dung nạp về mặt lâm sàng; ngược lại, xét nghiệm có thể âm tính trong khi bệnh nhân vẫn phản ứng khi ăn, mặc dù trường hợp sau ít gặp hơn. (Xem thêm ‘Xác định tình trạng hết dị ứng’ ở dưới.)
Dị ứng sữa bò – Dị ứng sữa bò (CMA; tất cả các thể) ảnh hưởng đến khoảng 2,5% trẻ em dưới 2 tuổi. Các thể dị ứng sữa bò không qua trung gian IgE phổ biến nhất thường là tình trạng tạm thời ở trẻ em và hầu hết sẽ tự khỏi, ngoại trừ viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan. Dị ứng sữa bò qua trung gian IgE có thể kéo dài đến tuổi vị thành niên, mặc dù thường sẽ hết khi trưởng thành. (Xem thêm ‘Sữa bò’ ở dưới.)
Dị ứng trứng gà – Dị ứng trứng gà (HEA) ảnh hưởng từ 1% đến 9% trẻ em. Đa số các trường hợp sẽ hết khi trưởng thành. (Xem thêm ‘Trứng gà’ ở dưới.)
Dị ứng lạc và hạt cây – Dị ứng lạc và hạt cây ảnh hưởng đến khoảng 0,5% đến 3% trẻ em và có xu hướng gia tăng theo thời gian. Đây thường là rối loạn kéo dài suốt đời đối với hầu hết bệnh nhân, mặc dù 20% đến 25% trẻ hết dị ứng lạc và ít nhất 9% hết dị ứng hạt cây. Tái phát hiếm gặp, dù đã có một vài trường hợp được ghi nhận. (Xem thêm ‘Lạc và hạt cây’ ở dưới.)
Dị ứng lúa mì – Dị ứng lúa mì là một loại dị ứng thực phẩm phổ biến ở trẻ em, thường hết khi đến tuổi vị thành niên. Tình trạng này thường đi kèm với các bệnh lý cơ địa dị ứng khác và các loại dị ứng thực phẩm khác. (Xem thêm ‘Dị ứng lúa mì’ ở dưới.)