Khả năng sinh sản, thai kỳ và cho con bú trong bệnh viêm ruột (IBD)

TÓM TẮT

Một số nghiên cứu ghi nhận sự gia tăng nguy cơ tái phát bệnh trong giai đoạn hậu sản 29,165,166. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến đợt cấp của bệnh có thể bao gồm sự biến động nội tiết tố, ngưng thuốc điều trị IBD trong thời kỳ cho con bú và tái sử dụng thuốc lá 166. Đối với những bệnh nhân có kế hoạch mang thai rõ ràng và tiếp tục duy trì thuốc trong khi cho con bú, việc tái khám nên được thực hiện trong vòng 6 tháng sau sinh, hoặc sớm hơn nếu các triệu chứng xuất hiện hoặc trầm trọng hơn trước lịch hẹn.

Các thay đổi sinh lý bình thường và chăm sóc sản khoa thường quy trong giai đoạn hậu sản được thảo luận trong một phần riêng. (Xem “Tổng quan về giai đoạn hậu sản: Sinh lý bình thường và chăm sóc sản khoa thường quy”.)

TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tổng quan – Bệnh viêm ruột (IBD) có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân trong độ tuổi sinh đẻ, từ đó tác động đến khả năng sinh sản, thai kỳ và việc nuôi con bằng sữa mẹ. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Bệnh nhân IBD trong giai đoạn ổn định không bị giảm khả năng sinh sản so với quần thể chung. Tuy nhiên, khả năng sinh sản có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng viêm hoạt động, tác dụng của thuốc và tiền sử phẫu thuật. (Xem ‘Khả năng sinh sản’ ở dưới.)

Trong thai kỳ, bệnh nhân viêm đại tràng loét thường có mức độ hoạt động của bệnh cao hơn so với bệnh nhân bệnh Crohn. Bệnh nhân IBD mang thai có nguy cơ gặp phải các kết cục sản khoa và biến chứng liên quan đến thai kỳ xấu hơn so với quần thể chung, ngay cả khi bệnh đang trong giai đoạn thuyên giảm. (Xem ‘Thai kỳ và cho con bú’ ở dưới.)

Tư vấn tiền thai kỳ – Diễn tiến của IBD trong thai kỳ phụ thuộc một phần vào mức độ hoạt động của bệnh tại thời điểm thụ thai. Những bệnh nhân đang trong giai đoạn thuyên giảm khi thụ thai thường sẽ duy trì trạng thái này suốt thai kỳ. Ngược lại, có đến 70% bệnh nhân có bệnh hoạt động tại thời điểm thụ thai sẽ tiếp tục có triệu chứng hoặc tiến triển nặng hơn trong khi mang thai. (Xem ‘Kiểm soát bệnh’ ở dưới.)

Đánh giá chẩn đoán trong thai kỳ – Nội soi trong thai kỳ chỉ nên được thực hiện khi có chỉ định mạnh mẽ hoặc khi thông tin thu được là then chốt cho các quyết định điều trị. Nội soi đại tràng sigma mềm không an thần được xem là có nguy cơ thấp. Chụp cộng hưởng từ ruột (MRE) là phương pháp chẩn đoán ưu tiên cho bệnh nhân IBD mang thai, trừ khi cơ sở y tế có chuyên gia giàu kinh nghiệm về siêu âm trong IBD. (Xem ‘Đánh giá mức độ hoạt động của bệnh trong thai kỳ và cho con bú’ ở dưới.)

Sử dụng thuốc – Việc lựa chọn các thuốc kháng viêm và ức chế miễn dịch trong thai kỳ và cho con bú phải dựa trên độ an toàn tương đối, chỉ định cụ thể cũng như nguy cơ tái phát IBD nếu ngưng thuốc. (Xem ‘Thuốc trong thai kỳ và cho con bú’ ở dưới.)

Phương pháp sinh – Những bệnh nhân bệnh Crohn có tổn thương vùng tầng sinh môn hoặc trực tràng nên được chỉ định sinh mổ. Đối với tất cả các bệnh nhân IBD khác, phương pháp sinh sẽ do bác sĩ sản khoa quyết định dựa trên chỉ định lâm sàng. (Xem ‘Phương pháp sinh’ ở dưới.)

Phẫu thuật ở bệnh nhân mang thai – Các biến chứng liên quan đến IBD cần can thiệp phẫu thuật ở phụ nữ mang thai bao gồm: viêm đại tràng cấp tính kháng trị, thủng ruột, áp xe, xuất huyết nặng và tắc ruột. Mặc dù dữ liệu còn hạn chế, phẫu thuật có liên quan đến nguy cơ sinh non hoặc sảy thai tự nhiên, có thể do tác động vô ý vào tử cung trong quá trình can thiệp. (Xem ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here