U máu ở trẻ em: Xử trí

TÓM TẮT

Tiếp cận chung — Việc tiếp cận điều trị và lựa chọn phương pháp điều trị u máu trẻ em (IH) cần được cá thể hóa tùy thuộc vào kích thước và vị trí của tổn thương, sự hiện diện của các biến chứng, nguy cơ để lại sẹo hoặc gây biến dạng, tốc độ tăng trưởng hoặc thoái triển tại thời điểm đánh giá, các rủi ro và lợi ích tiềm tàng của điều trị, khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị và kinh nghiệm của bác sĩ điều trị (sơ đồ 1). Công cụ Điểm chuyển tuyến U máu trẻ em (IHReS) đã được phát triển để giúp các bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu xác định những trường hợp u máu phức tạp cần chuyển đến các trung tâm chuyên sâu. (Xem thêm mục ‘Tiếp cận chung’‘Phân tầng nguy cơ và chỉ định chuyển tuyến/can thiệp’ ở dưới.)

Mục tiêu điều trị — Mục tiêu của điều trị bao gồm: phòng ngừa hoặc đảo ngược các biến chứng đe dọa tính mạng hoặc gây suy giảm chức năng; phòng ngừa hoặc giảm thiểu tình trạng biến dạng, chảy máu, nhiễm trùng và đau; đồng thời giảm thiểu những ảnh hưởng tâm lý xã hội cho bệnh nhi và gia đình. Các liệu pháp điều trị nội khoa đối với u máu đạt hiệu quả cao nhất khi được bắt đầu càng sớm càng tốt trong giai đoạn tăng sinh của u máu, thường trong 2 đến 3 tháng đầu, và lý tưởng nhất là trong 4 đến 6 tuần đầu sau sinh. (Xem thêm mục ‘Mục tiêu điều trị’ ở dưới.)

U máu trẻ em nguy cơ thấp/không biến chứng — Chúng tôi đề xuất theo dõi chủ động (không can thiệp) đối với hầu hết các u máu không biến chứng và không gây biến dạng (Khuyến cáo 2C). Theo dõi chủ động đòi hỏi phải kiểm tra thường xuyên diễn tiến lâm sàng và chú trọng đến các tác động tâm lý xã hội đối với trẻ và gia đình. (Xem thêm mục ‘Theo dõi chủ động’ ở dưới.)

Các thuốc chẹn beta tại chỗ (ví dụ: propranolol, timolol, carteolol dạng bôi) có thể được sử dụng như một phương án thay thế cho việc theo dõi trong điều trị các u máu mỏng, nông, đặc biệt là khi cha mẹ hoặc người chăm sóc mong muốn điều trị. (Xem thêm mục ‘Thuốc chẹn beta tại chỗ’ ở dưới.)

U máu trẻ em nguy cơ cao/có biến chứng — Chúng tôi khuyến cáo sử dụng propranolol đường uống là lựa chọn hàng đầu để điều trị các u máu có biến chứng có tiềm năng gây suy giảm chức năng hoặc gây biến dạng (ví dụ: u máu quanh ổ mắt) (Khuyến cáo 1A). Liệu trình điều trị thường bắt đầu với liều 1 mg/kg/ngày, sau đó tăng dần đến liều đích từ 2 đến 3 mg/kg/ngày (sơ đồ 2). Tác dụng phụ đáng kể nhất của propranolol đường uống là hạ đường huyết. Nguy cơ này có thể được giảm thiểu bằng cách hướng dẫn người chăm sóc luôn cho trẻ uống thuốc sau khi ăn đủ và tạm ngưng dùng propranolol khi trẻ ăn uống kém hoặc không ăn được. (Xem thêm mục Propranolol ở dưới.)

Corticosteroids toàn thân hoặc sirolimus là những lựa chọn thay thế cho những bệnh nhân có u máu biến chứng nhưng có chống chỉ định với thuốc chẹn beta, hoặc có thể được dùng làm liệu pháp phối hợp trong một số trường hợp nghiêm trọng được chọn lọc. Phẫu thuật cắt bỏ thường được chỉ định cho các tổn thương đã thoái triển nhưng còn sẹo hoặc da chùng; u máu thoái triển không hoàn toàn ở những vùng nhạy cảm về thẩm mỹ; và u máu da có cuống. (Xem thêm mục ‘Liệu pháp bước hai’ ở dưới.)

U máu trẻ em vùng quanh mắt — Trẻ mắc u máu quanh ổ mắt cần được đánh giá và theo dõi bởi bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm trong điều trị u máu. (Xem thêm mục ‘U máu quanh mắt’ ở dưới.)

U máu trẻ em có loét — Chúng tôi đề xuất sử dụng propranolol đường uống kết hợp với chăm sóc vết thương tỉ mỉ và giảm đau thích hợp để điều trị các u máu có loét có thể gây biến dạng vĩnh viễn, gây cản trở các hoạt động sinh hoạt hàng ngày hoặc không đáp ứng với các biện pháp chăm sóc vết thương (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘U máu có loét’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here