TÓM TẮT
Các thể bệnh viêm ruột (IBD) – IBD bao gồm hai thể chính: bệnh Crohn (CD) và viêm đại tràng ulcerative (UC). CD có thể tổn thương bất kỳ vị trí nào của đường tiêu hóa, từ khoang miệng đến hậu môn. Ngược lại, UC thường khu trú ở đại tràng, mặc dù tình trạng viêm nhẹ ở hồi tràng cuối và đường tiêu hóa trên cũng có thể gặp trong UC (Xem ‘Biểu hiện tiêu hóa’ ở dưới).
Triệu chứng khởi phát – Bệnh nhân IBD thường khởi phát ở giai đoạn cuối thời thơ ấu hoặc tuổi vị thành niên với các triệu chứng: đau bụng, sụt cân, tiêu chảy và đi ngoài ra máu. Một số bệnh nhân có các triệu chứng toàn thân bao gồm sốt và mệt mỏi. Chậm phát triển thể chất thường xuất hiện nhưng có thể diễn ra âm thầm khiến bệnh nhân hoặc gia đình không nhận ra (Xem ‘Triệu chứng khởi phát’ ở dưới).
Biểu hiện tại miệng và vùng quanh hậu môn – Tổn thương miệng và vùng quanh hậu môn xảy ra ở khoảng một phần ba bệnh nhân CD. Trong khi đó, các tổn thương miệng ít gặp hơn nhiều trong UC:
- Tổn thương quanh hậu môn nghiêm trọng, bao gồm rò hoặc áp xe quanh hậu môn, xảy ra ở khoảng 30% trẻ em và thanh thiếu niên mắc CD. Thể tổn thương quanh hậu môn gây hủy hoại nặng nề xuất hiện ở khoảng 5% bệnh nhân. Các biểu hiện nhẹ hơn bao gồm nứt kẽ hậu môn và da thừa (hình 1). (Xem ‘Biểu hiện tại miệng và vùng quanh hậu môn’ ở dưới và “Bệnh Crohn vùng quanh hậu môn”).
- Tổn thương miệng xuất hiện ở tối đa 40% trẻ em mắc CD, có thể bao gồm viêm niêm mạc nướu, loét aphthous hoặc sưng tấy. Đôi khi, tổn thương miệng và quanh hậu môn xuất hiện ngay cả khi không có tổn thương ruột đáng kể. (Xem ‘Biểu hiện tại miệng và vùng quanh hậu môn’ ở dưới).
Chậm phát triển thể chất – Tình trạng này xuất hiện ở khoảng 30% trẻ em và thanh thiếu niên mắc CD và ít gặp hơn ở trẻ mắc UC. Nguyên nhân là do sự kết hợp giữa chán ăn và tăng nhu cầu năng lượng liên quan đến tình trạng viêm. Dấu hiệu báo trước thường là sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng chiều cao; điều này được đánh giá tốt nhất thông qua việc đo chiều cao định kỳ và so sánh với tốc độ tăng trưởng trước đó cũng như tốc độ tăng trưởng kỳ vọng theo tuổi (hình 2). (Xem ‘Chậm phát triển thể chất’ ở dưới và “Chậm phát triển thể chất và chậm dậy thì ở trẻ em mắc bệnh viêm ruột”).
Biểu hiện ngoài đường ruột – Các biểu hiện ngoài đường ruột đôi khi xuất hiện trong cả CD và UC, bao gồm tổn thương da, khớp, hệ gan mật, mắt và hệ hô hấp (bảng 3A-B). Những rối loạn này xuất hiện tùy theo cơ địa mỗi bệnh nhân nhưng thường liên quan nhiều hơn đến tổn thương đại tràng. Sự hiện diện hay mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện ngoài đường ruột không tương quan nhất quán với mức độ viêm ruột, đặc biệt là đối với bệnh lý gan. (Xem ‘Biểu hiện ngoài đường ruột’ ở dưới).
Viêm đường mật xơ hóa (SC) – Bệnh lý gan nghiêm trọng nhất liên quan đến IBD là SC, một tình trạng gây viêm và sẹo hóa các đường mật, có thể dẫn đến các biến chứng gan mật phức tạp như viêm đường mật, xơ gan và suy gan, cũng như tăng nguy cơ ung thư gan mật. SC xảy ra ở tối đa 10% bệnh nhân UC và một tỷ lệ nhỏ hơn ở bệnh nhân viêm đại tràng do Crohn, thường đi kèm với viêm gan tự miễn. Bệnh nhân IBD cần được tầm soát xét nghiệm bệnh lý gan mật tại thời điểm chẩn đoán và định kỳ sau đó. Những trường hợp có kết quả bất thường cần được đánh giá toàn diện để chẩn đoán SC và khả năng kèm theo viêm gan tự miễn. (Xem ‘Viêm đường mật xơ hóa’ ở dưới).
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) – Giai đoạn hoạt động của IBD làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE), xảy ra ở tối đa 2% bệnh nhân nhập viện và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Cần áp dụng các can thiệp không dùng thuốc để giảm thiểu nguy cơ thuyên tắc huyết khối cho tất cả trẻ em mắc IBD nhập viện, bao gồm bù đủ dịch, vận động sớm và sử dụng tất áp lực hoặc thiết bị nén hơi nếu phù hợp.
Đối với bất kỳ trẻ em nhập viện nào có tình trạng IBD hoạt động nặng và có tiền sử thuyên tắc huyết khối, chúng tôi đề xuất điều trị dự phòng bằng thuốc chống đông, với điều kiện không có xuất huyết tiêu hóa mức độ trung bình hoặc nặng (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi cũng đề xuất điều trị dự phòng bằng thuốc chống đông cho trẻ lớn (>12 tuổi) có sự kết hợp giữa IBD hoạt động nặng và các yếu tố nguy cơ khác, bao gồm đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm, tiền sử gia đình thuyên tắc huyết khối hoặc bất động (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch’ ở dưới).