TÓM TẮT
Dịch tễ học và truyền nhiễm – Viêm nướu miệng do Herpes thường do virus herpes simplex type 1 (HSV-1) gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi và xảy ra quanh năm. Nhiễm HSV-1 thường là kết quả của việc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết hoặc tổn thương niêm mạc miệng có chứa virus. Trẻ mắc viêm nướu miệng nguyên phát thường đào thải HSV trong ít nhất một tuần (trung bình là ba tuần).
Đặc điểm lâm sàng và biến chứng – Viêm nướu miệng do Herpes đặc trưng bởi các tổn thương loét ở nướu và niêm mạc miệng (hình 1), thường kèm theo các tổn thương mụn nước quanh miệng (hình 2A). Các tổn thương trong và ngoài miệng xuất hiện sau giai đoạn tiền triệu bao gồm sốt và các triệu chứng toàn thân. Ban đầu là các mụn nước, sau đó hòa nhập tạo thành các vết loét gây đau, kèm theo tình trạng nướu phù nề và dễ chảy máu lan tỏa (hình 1). Các dấu hiệu đi kèm bao gồm sốt, hôi miệng, bỏ bú/uống, chán ăn và viêm hạch dưới hàm hoặc hạch cổ. (Xem thêm phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Mất nước là biến chứng thường gặp nhất. Các biến chứng ít gặp hơn bao gồm sự lan truyền của HSV sang các vị trí khác (ví dụ: viêm móng tay do herpes (hình 5A-C), viêm giác mạc do herpes (hình 6), chàm do herpes (hình 7A-B), viêm não, viêm thực quản, viêm phổi, chàm do herpes (hình 7A-B)), dính môi và nhiễm khuẩn huyết thứ phát. (Xem thêm phần ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Việc chẩn đoán viêm nướu miệng thường dựa trên lâm sàng, căn cứ vào hình thái và vị trí điển hình của các tổn thương trong và ngoài miệng (hình 1 và hình 2A). Nếu cần thiết, HSV-1 thường được xác nhận bằng phản ứng chuỗi polymerase (PCR). (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Sự hiện diện, hình thái và vị trí của các tổn thương trong và ngoài miệng giúp phân biệt viêm nướu miệng do HSV-1 với các tình trạng khác trong chẩn đoán phân biệt, bao gồm (xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới):
- Herpangina (viêm họng hạt) (hình 8)
- Bệnh tay chân miệng (hình 9A-C)
- Nấm miệng (Oral candidiasis) (hình 10)
- Loét Aphthous (hình 11A-B)
- Hội chứng Stevens-Johnson
- Hội chứng Behçet
Chăm sóc hỗ trợ – Chăm sóc hỗ trợ, trong đó chú trọng vào việc duy trì bù nước, là phương pháp điều trị chính. Kiểm soát đau và bôi kem bảo vệ/chất ngăn cách (ví dụ: vaseline) lên môi để tránh dính môi là các biện pháp hỗ trợ bổ sung. (Xem thêm phần ‘Chăm sóc hỗ trợ cho tất cả trẻ em’ ở dưới.)
Điều trị bằng thuốc kháng virus
Trẻ có hệ miễn dịch bình thường – Đối với trẻ có hệ miễn dịch bình thường mắc viêm nướu miệng do herpes dẫn đến hạn chế uống nước nghiêm trọng hoặc đau nhiều, và nhập viện trong vòng 96 giờ kể từ khi khởi phát bệnh, chúng tôi đề xuất điều trị bằng acyclovir đường uống thay vì chỉ chăm sóc hỗ trợ (Khuyến cáo 2B). Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên, việc khởi đầu acyclovir đường uống trong vòng 3 đến 4 ngày kể từ khi khởi phát bệnh giúp giảm thời gian kéo dài các triệu chứng từ 3 đến 6 ngày. (Xem thêm phần ‘Trẻ có hệ miễn dịch bình thường hạn chế uống nước nghiêm trọng’ ở dưới.)
Liều dùng: Acyclovir 15 mg/kg uống (liều đơn tối đa 200 mg), 5 lần/ngày trong 5 đến 7 ngày.
Trẻ suy giảm miễn dịch – Đối với trẻ suy giảm miễn dịch mắc viêm nướu miệng do herpes, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng acyclovir đường tĩnh mạch (IV) hoặc đường uống thay vì chỉ chăm sóc hỗ trợ (Khuyến cáo 1B). Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên quy mô nhỏ, acyclovir toàn thân giúp rút ngắn thời gian xuất hiện triệu chứng và thời gian đào thải virus. (Xem thêm phần ‘Trẻ suy giảm miễn dịch’ ở dưới.)
Quyết định về đường dùng thuốc được cá thể hóa tùy theo mức độ suy giảm miễn dịch và nghi ngờ lan tỏa. Chúng tôi sử dụng acyclovir IV nếu nhiễm trùng nặng hoặc đe dọa tính mạng (nhiễm trùng lan tỏa, biến chứng thần kinh trung ương [ví dụ: viêm não màng não], viêm gan, viêm phổi). Các phác đồ điều trị ban đầu như sau:
- Đường tĩnh mạch: Acyclovir 30 mg/kg/ngày, chia làm 3 liều (cho trẻ mọi lứa tuổi) trong 10 đến 14 ngày.
- Đường uống: Acyclovir 1000 mg/ngày, chia làm 3 đến 5 liều (cho trẻ ≥ 2 tuổi) trong 10 đến 14 ngày.
Thất bại điều trị – Cần cân nhắc khả năng thất bại điều trị nếu các tổn thương do HSV không bắt đầu thuyên giảm sau 5 đến 7 ngày khởi đầu điều trị kháng virus, hoặc nếu xuất hiện các tổn thương mới sau 3 đến 4 ngày điều trị. (Xem thêm phần ‘Thất bại đáp ứng với điều trị kháng virus’ ở dưới.)