TÓM TẮT
Dịch tễ học – Staphylococcus aureus là nguyên nhân quan trọng gây vi khuẩn huyết cả trong cộng đồng và trong cơ sở y tế. Hầu hết các trường hợp vi khuẩn huyết do S. aureus (SAB) ở trẻ em có liên quan đến một ổ nhiễm trùng khu trú (ví dụ: nhiễm trùng xương khớp, viêm phổi, nhiễm trùng da và mô mềm) hoặc do các thiết bị xâm lấn (ví dụ: catheter tĩnh mạch trung tâm). (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Kháng kháng sinh – Tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) đã trở thành một tác nhân gây bệnh phổ biến trong cộng đồng. Các chủng S. aureus phân lập được cũng phát triển khả năng kháng clindamycin và trong một số ít trường hợp là kháng vancomycin. (Xem thêm ‘Kháng thuốc kháng vi sinh vật’ ở dưới và “Tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) ở trẻ em: Dịch tễ học và phổ lâm sàng”.)
Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ quan trọng đối với SAB bao gồm (xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới):
- Catheter tĩnh mạch (xem ‘Ống thông trong lòng mạch’ ở dưới)
- Vật thể lạ hoặc thiết bị thay thế lưu trong cơ thể (xem ‘Vật thể lạ cấy ghép’ ở dưới)
- Các bệnh lý nền (xem Các bệnh lý nền ở dưới)
- Định cư S. aureus trong hốc mũi (xem Định cư ở mũi ở dưới)
- Sử dụng ma túy đường tiêm (xem Sử dụng ma túy đường tiêm ở dưới)
Phổ bệnh lý – SAB có thể liên quan đến nhiều loại nhiễm trùng khu trú xâm lấn và nhiễm trùng hệ thống, bao gồm nhiễm khuẩn huyết liên quan đến catheter, sốc nhiễm khuẩn, hội chứng sốc độc tính, nhiễm trùng da và mô mềm, viêm xương tủy, viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm phổi và viêm nội tâm mạc. (Xem thêm Phổ bệnh lý ở dưới.)
Điều trị
Điều trị kinh nghiệm – Việc điều trị kháng sinh kinh nghiệm cho S. aureus có thể được chỉ định khi trẻ mắc một tình trạng nhiễm trùng mà S. aureus là tác nhân tiềm tàng quan trọng, hoặc khi có nghi ngờ lâm sàng về vi khuẩn huyết ở trẻ có các yếu tố nguy cơ nhiễm S. aureus (ví dụ: đặt catheter tĩnh mạch hoặc các thiết bị xâm lấn khác, dùng ma túy đường tĩnh mạch), hoặc khi kết quả nhuộm Gram sơ bộ gợi ý S. aureus. (Xem thêm “Tụ cầu vàng ở trẻ em: Tổng quan về điều trị nhiễm trùng xâm lấn”, phần ‘Khi nào nghi ngờ nhiễm S. aureus’.)
Khi đã quyết định điều trị kháng sinh kinh nghiệm cho nhiễm trùng xâm lấn do S. aureus, việc lựa chọn thuốc sẽ tùy thuộc vào ổ nhiễm trùng, mức độ nghiêm trọng, nguồn gốc nhiễm trùng (cộng đồng hay bệnh viện) và nếu là nhiễm trùng cộng đồng thì tỷ lệ lưu hành MRSA tại cộng đồng đó là bao nhiêu. Cách tiếp cận được trình bày trong bảng (bảng 1) và được thảo luận chi tiết trong mục riêng. (Xem thêm “Tụ cầu vàng ở trẻ em: Tổng quan về điều trị nhiễm trùng xâm lấn”, phần ‘Lựa chọn liệu pháp’.)
Điều trị đích – Sau khi có kết quả kháng sinh đồ, phác đồ điều trị có thể được điều chỉnh. Lựa chọn phác đồ được tóm tắt trong bảng (bảng 3) và được thảo luận chi tiết trong mục riêng. (Xem thêm “Tụ cầu vàng ở trẻ em: Tổng quan về điều trị nhiễm trùng xâm lấn”, phần ‘Liệu pháp kháng khuẩn đặc hiệu’.)
Thời gian điều trị – Thời gian điều trị SAB phụ thuộc vào ổ nhiễm trùng (xem Thời gian điều trị ở dưới):
- Không xác định được ổ nhiễm trùng – Điều trị đường tiêm truyền từ 10 đến 14 ngày thường là đủ cho các trường hợp SAB không biến chứng ở trẻ em và trẻ nhũ nhi khỏe mạnh (ngoại trừ trẻ sơ sinh) nếu không tìm thấy ổ nhiễm trùng.
- Viêm xương tủy hoặc viêm khớp nhiễm khuẩn – SAB liên quan đến viêm xương tủy hoặc viêm khớp nhiễm khuẩn thường được điều trị ít nhất 3 tuần. Điều trị ban đầu bằng kháng sinh đường tiêm truyền; hầu hết bệnh nhân có thể chuyển sang kháng sinh đường uống sau khi cải thiện lâm sàng. (Xem “Viêm khớp do vi khuẩn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Điều trị và kết cục”, phần ‘Tổng thời gian điều trị’ và “Viêm tủy xương do đường máu ở trẻ em: Quản lý”, phần ‘Tổng thời gian điều trị’.)
- Nhiễm trùng da và mô mềm – SAB liên quan đến nhiễm trùng da và mô mềm thường được điều trị từ 7 đến 10 ngày. Bệnh nhân có thể chuyển sang kháng sinh đường uống sau 48 đến 72 giờ kể từ khi kết quả cấy máu âm tính. (Xem “Áp xe da, viêm mô tế bào và viêm quầng ở trẻ em >28 ngày tuổi: Đánh giá và quản lý”, phần ‘Thời gian dùng kháng sinh’.)
- Nhiễm trùng liên quan đến catheter – SAB liên quan đến catheter được điều trị bằng kháng sinh đường tiêm truyền từ 10 đến 14 ngày. (Xem “Nhiễm trùng liên quan đến catheter trong lòng mạch không phải lọc máu: Điều trị”, phần ‘Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)’.)
- Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn – Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn do S. aureus được điều trị đường tiêm truyền tối thiểu từ 4 đến 6 tuần. (Xem “Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn ở trẻ em”, phần ‘Điều trị’.)
Theo dõi
Cấy máu nhắc lại – Cần cấy máu nhắc lại mỗi 24 đến 48 giờ cho đến khi có hai kết quả cấy máu liên tiếp âm tính và tình trạng bệnh nhân ổn định. Nếu kết quả cấy máu vẫn dương tính sau 72 giờ, cần đánh giá để tìm các ổ nhiễm trùng chưa xác định, chẳng hạn như viêm tĩnh mạch huyết khối nhiễm khuẩn, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn hoặc áp xe chưa được dẫn lưu. Cần theo dõi tổng phân tích tế bào máu hàng tuần cho những bệnh nhân đang điều trị bằng kháng sinh beta-lactam. (Xem Cấy máu lặp lại ở dưới.)
Siêu âm tim – Siêu âm tim nên được thực hiện ở trẻ nhiễm SAB nếu có bất kỳ đặc điểm nào sau đây (xem Siêu âm tim ở dưới):
- Có bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh van tim
- Vi khuẩn huyết kéo dài trên 2 đến 3 ngày
- Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý viêm nội tâm mạc (ví dụ: xuất hiện tiếng thổi mới hoặc thay đổi tiếng thổi, thuyên tắc nhiễm khuẩn)
Tiên lượng – Tỷ lệ tử vong liên quan đến SAB ở trẻ em là khoảng 2 đến 3%. Nguy cơ tử vong tăng cao ở trẻ nhũ nhi dưới 1 tuổi và trẻ có nhiễm trùng phổi, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng bệnh viện và các bệnh lý đồng mắc. (Xem Kết quả ở dưới.)