Nhịp nhanh thất không kéo dài khi không có bệnh tim cấu trúc rõ ràng

TÓM TẮT

Tổng quan – Nhịp nhanh thất không bền vững (NSVT) được định nghĩa là chuỗi từ 3 nhịp thất liên tiếp trở lên với tần số trên 100 chu kỳ/phút và kéo dài dưới 30 giây (dạng sóng 1). Đây là một vấn đề lâm sàng tương đối phổ biến, gặp ở tối đa 4% dân số. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’‘Tỷ lệ mắc NSVT’ ở dưới.)

Chẩn đoán – NSVT thường được chẩn đoán trong quá trình theo dõi tim (ví dụ: theo dõi ECG lưu động, telemetry tại bệnh viện hoặc thông qua các thiết bị điện tử cấy ghép trong tim) hoặc trong quá trình nghiệm pháp gắng sức. Thách thức ban đầu là xác định xem nhịp nhanh phức bộ rộng đó thực sự có nguồn gốc từ thất hay là các nhịp trên thất dẫn truyền sai đường; có một số dấu hiệu trên điện tâm đồ giúp phân biệt hai tình trạng này. (Xem thêm phần ‘Xác định nguồn gốc của nhịp nhanh phức bộ rộng’ ở dưới.)

Đánh giá bệnh lý cấu trúc tim – Sau khi chẩn đoán NSVT, việc xác định sự hiện diện hay vắng mặt của bệnh lý cấu trúc tim đi kèm là rất quan trọng. Ở những bệnh nhân không có triệu chứng, việc khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng, thực hiện điện tâm đồ 12 chuyển đạo, siêu âm tim qua thành ngực và nghiệm pháp gắng sức thường là đủ để loại trừ các bệnh lý cấu trúc tim có ý nghĩa về mặt tiên lượng. (Xem thêm phần ‘Đánh giá’ ở dưới.)

NSVT kèm ngất – Đối với những bệnh nhân ngất được cho là có liên quan đến NSVT, hoặc những người có tiền sử gia đình mạnh mẽ gợi ý bệnh cơ tim di truyền (ví dụ: bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim gây loạn nhịp thất phải) hoặc bệnh lý kênh ion di truyền, có thể cần thực hiện thêm các xét nghiệm chuyên sâu. Các xét nghiệm này bao gồm xét nghiệm di truyền tìm các đột biến đặc hiệu và chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn nâng cao như chụp cắt lớp vi tính (CT) tim hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) tim. (Xem thêm phần ‘Đánh giá’ ở dưới.)

Điều trị – Đối với bệnh nhân NSVT không có triệu chứng và không có bằng chứng của bệnh lý cấu trúc tim, chúng tôi khuyến cáo không cần điều trị nội khoa đặc hiệu (Khuyến cáo 2C).

Với những bệnh nhân có triệu chứng gây khó chịu, thuốc chẹn beta sẽ được sử dụng trừ khi có chống chỉ định (ví dụ: hen suyễn không kiểm soát). Trong trường hợp đó, thuốc chẹn kênh calci (thường là verapamil hoặc diltiazem) sẽ được lựa chọn. Nếu NSVT vẫn tồn tại dù đã điều trị bằng các thuốc này, các lựa chọn điều trị tiếp theo bao gồm các thuốc chống loạn nhịp mạnh hơn hoặc liệu pháp triệt đốt bằng catheter. (Xem thêm phần ‘Điều trị’ ở dưới và “Nhịp nhanh thất không bền: Biểu hiện lâm sàng, đánh giá và xử trí”, mục ‘Tóm tắt và khuyến nghị’.)

Tiên lượng – Tiên lượng của NSVT thường lành tính ở những bệnh nhân không có bệnh lý cấu trúc tim rõ ràng. (Xem thêm phần ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Tiên lượng của NSVT xuất hiện trong quá trình gắng sức được thảo luận riêng biệt. (Xem thêm “Các đặc điểm tiên lượng của nghiệm pháp gắng sức ở bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ mắc bệnh mạch vành”, mục ‘Nhịp nhanh thất không bền’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here