Sỏi thận ở trẻ em: Phòng ngừa sỏi tái phát

TÓM TẮT

Dịch tễ học

Ở trẻ em và thanh thiếu niên mắc sỏi thận, tình trạng tái phát sỏi xảy ra thường xuyên với tỷ lệ báo cáo từ 30% đến 60%. Những trẻ có rối loạn chuyển hóa tiềm ẩn thường có nguy cơ hình thành sỏi tái phát cao hơn. (Xem mục Dịch tễ học ở dưới.)

Đánh giá

Hơn một nửa số trẻ mắc sỏi thận có rối loạn chuyển hóa tiềm ẩn. Do đó, trong thực hành lâm sàng, chúng tôi thường quy thực hiện đánh giá rối loạn chuyển hóa cho tất cả trẻ mắc sỏi thận. Quá trình đánh giá bao gồm phân tích sỏi (nếu có thể), cùng với các xét nghiệm máu và nước tiểu để phát hiện tình trạng tăng nồng độ các chất hòa tan trong huyết thanh và/hoặc nước tiểu. Các xét nghiệm này nên được thực hiện khi trẻ đang ở nhà, vận động bình thường, duy trì chế độ ăn uống ổn định và không trong tình trạng nhiễm trùng. (Xem mục Đánh giá các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn ở dưới.)

  • Xét nghiệm máu – Các xét nghiệm bao gồm định lượng canxi, phospho, bicarbonate, creatinine, magie và acid uric. (Xem mục Xét nghiệm huyết thanh ở dưới và “Sỏi thận ở trẻ em: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Xét nghiệm huyết thanh’.)
  • Xét nghiệm nước tiểu

    Để đánh giá đầy đủ các yếu tố nguy cơ gây sỏi thận, cần phân tích nước tiểu 24 giờ về thể tích, độ thẩm thấu, creatinine, canxi, oxalate, acid uric, natri, kali, magie, phospho, ammonium, sulfate và citrate, cũng như mức độ siêu bão hòa tinh thể của canxi oxalate, canxi phosphate và acid uric.

    Trong một số trường hợp, việc thu thập nước tiểu 24 giờ gặp khó khăn, đặc biệt ở trẻ chưa biết tự đi vệ sinh. Vì vậy, các giá trị bình thường dựa trên một mẫu nước tiểu đơn lẻ đã được xây dựng để bổ trợ cho các giá trị tiêu chuẩn theo độ tuổi của mẫu nước tiểu 24 giờ (bảng 1bảng 3). (Xem mục Xét nghiệm nước tiểu ở dưới và “Sỏi thận ở trẻ em: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Xét nghiệm nước tiểu’.)

    Xét nghiệm nước tiểu thường quy cung cấp thêm thông tin về độ đậm đặc, độ acid của nước tiểu và sự hiện diện của các tinh thể, giúp định hướng yếu tố nguy cơ chuyển hóa cụ thể gây hình thành sỏi.

Quản lý phòng ngừa

  • Lượng nước uống – Ở tất cả trẻ mắc sỏi thận, việc tăng cường uống nước là cần thiết để giảm nguy cơ tái phát sỏi. Chúng tôi dựa vào thể tích nước tiểu 24 giờ mục tiêu theo độ tuổi, kết hợp với độ thẩm thấu hoặc tỷ trọng nước tiểu để đánh giá mức độ cung cấp nước đã đầy đủ hay chưa. (Xem mục Lượng dịch nạp vào ở dưới.)
  • Can thiệp chuyển hóa – Các biện pháp can thiệp phòng ngừa điều trị dựa trên tình trạng chuyển hóa tiềm ẩn, cụ thể đối với ba rối loạn phổ biến nhất như sau:
    • Tăng canxi niệu – Chúng tôi khuyến cáo ban đầu nên quản lý trẻ tăng canxi niệu bằng các biện pháp chế độ ăn thay vì điều trị bằng thuốc (Khuyến cáo 2C). Các biện pháp này bao gồm chế độ ăn ít natri và hạn chế lượng canxi nạp vào theo khuyến nghị dinh dưỡng của Hoa Kỳ (RDA) theo độ tuổi. Đối với những trẻ tái phát sỏi canxi mà các biện pháp chế độ ăn trong 3 đến 6 tháng không làm giảm mức canxi niệu, chúng tôi đề xuất phối hợp thêm thuốc lợi tiểu thiazide cùng với việc duy trì chế độ ăn, thay vì chỉ quản lý không dùng thuốc (Khuyến cáo 2C). (Xem mục Tăng calci niệu ở dưới.)
    • Tăng oxalate niệu – Cần đánh giá để xác định nguyên nhân gây tăng oxalate niệu. Đối với quản lý ban đầu ở trẻ tăng oxalate niệu không do nguyên nhân nguyên phát, chúng tôi khuyến cáo áp dụng các biện pháp giảm hấp thu oxalate tại ruột (Khuyến cáo 2C). Các biện pháp này bao gồm uống nhiều nước, sử dụng natri hoặc kali carbonate hoặc kali citrate-citric acid trong bữa ăn để gắn kết oxalate ở ruột, và giảm lượng oxalate trong chế độ ăn. Các lựa chọn điều trị khác như bổ sung magie, pyrophosphate hoặc cholestyramine thường chỉ cần thiết cho bệnh nhân tăng hấp thu oxalate thứ phát, không dùng cho bệnh nhân tăng oxalate niệu vô căn. Những trường hợp nghi ngờ tăng oxalate niệu nguyên phát nên được quản lý dưới sự tham vấn của chuyên gia về rối loạn này. (Xem mục Tăng oxalat niệu và bệnh oxalosis ở dưới và “Tăng oxalate niệu nguyên phát”, phần ‘Quản lý’.)
    • Giảm citrate niệu – Ở trẻ giảm citrate niệu, chúng tôi khuyến cáo tăng bài tiết citrate thông qua việc sử dụng kali citrate-citric acid (Khuyến cáo 2C). (Xem mục Giảm citrat niệu ở dưới.)

Theo dõi – Việc theo dõi bao gồm chẩn đoán hình ảnh để phát hiện sỏi mới hoặc sự tăng kích thước của sỏi cũ, cùng với đánh giá xét nghiệm để theo dõi đáp ứng với liệu pháp phòng ngừa. Siêu âm thận thường được ưu tiên lựa chọn vì ít phơi nhiễm bức xạ và chi phí thấp hơn so với chụp cắt lớp vi tính (CT) xoắn ốc không thuốc. Việc điều chỉnh các can thiệp chuyển hóa sẽ dựa trên kết quả theo dõi xét nghiệm. (Xem mục Theo dõi ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here