TÓM TẮT
Hầu hết (khoảng 85%) các trường hợp co giật sơ sinh có thể được phân loại là co giật “có triệu chứng” (cấp tính và phản ứng), xảy ra do một nguyên nhân cụ thể có thể xác định được (bảng 1 và bảng 2). (Xem phần ‘Phân loại’ ở dưới.)
Bệnh não sơ sinh do thiếu oxy thiếu máu là nguyên nhân phổ biến nhất gây co giật sơ sinh có triệu chứng. Các nguyên nhân thường gặp khác bao gồm đột quỵ nhồi máu hoặc xuất huyết não, rối loạn chuyển hóa và nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương. Các rối loạn chuyển hóa bẩm sinh tuy hiếm gặp nhưng cần được xác định sớm vì có thể áp dụng các liệu pháp điều trị đặc hiệu nhằm thay đổi diễn tiến bệnh. (Xem phần ‘Co giật cấp tính do kích thích (có triệu chứng)’ ở dưới.)
Ba hội chứng động kinh sơ sinh hiếm gặp nhưng điển hình đã được ghi nhận bao gồm: động kinh sơ sinh gia đình lành tính, bệnh não giật cơ sớm và bệnh não động kinh sơ sinh sớm. Các nguyên nhân di truyền của những hội chứng này ngày càng được làm rõ. (Xem “Tổng quan về các hội chứng động kinh sơ sinh”.)
Tỷ lệ tử vong sớm liên quan đến co giật sơ sinh là khá cao (15% đến 20%, cao hơn ở trẻ sinh non). Ở những trẻ sống sót, tỷ lệ gặp các khiếm khuyết thần kinh (20% đến 60%), bại não (lên đến 35%), chậm phát triển (lên đến 55%) và động kinh sau giai đoạn sơ sinh (13% đến 27%) cũng ở mức cao. (Xem phần ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
Những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến kết cục lâu dài thường là nguyên nhân gây co giật, cũng như mức độ và vị trí tổn thương não do bệnh lý nền gây ra. Điện não đồ (EEG) trong giai đoạn giữa các cơn cũng có giá trị trong việc tiên lượng kết cục lâu dài. (Xem phần ‘Các biến số tiên lượng’ ở dưới.)