Huyết khối tĩnh mạch chi trên liên quan đến catheter ở người lớn

TÓM TẮT

Huyết khối liên quan đến ống thông – Các ống thông tĩnh mạch gây ra tổn thương nội mạc và viêm thành tĩnh mạch, có thể dẫn đến huyết khối. Huyết khối tĩnh mạch nông và viêm tĩnh mạch thường liên quan đến ống thông tĩnh mạch ngoại biên nhất. Huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cũng có thể xảy ra và dẫn đến các biến chứng như thuyên tắc phổi hoặc hội chứng sau huyết khối ở chi trên. Phần lớn các biến cố DVT chi trên là do các ống thông trung tâm từ ngoại biên (PICC) gây ra. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Các yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ gây huyết khối tĩnh mạch chi trên liên quan đến ống thông bao gồm các yếu tố liên quan đến ống thông (ví dụ: đặt ống thông sai vị trí, kích thước ống thông), sự hiện diện của các trạng thái tăng đông (bẩm sinh hoặc mắc phải), liệu pháp hormone, và việc truyền các thuốc gây phồng rộp hoặc kích ứng. (Xem ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Đặc điểm lâm sàng – Phần lớn các triệu chứng và dấu hiệu của huyết khối liên quan đến ống thông có liên quan đến tác động tại chỗ của cục huyết khối (tức là viêm tĩnh mạch, tắc nghẽn tĩnh mạch [phù, đau]). Mặc dù ít phổ biến hơn, các triệu chứng và dấu hiệu xuất phát từ tình trạng thuyên tắc vào tuần hoàn phổi, hoặc nghịch thường vào tuần hoàn hệ thống qua lỗ bầu dục còn tồn tại (ví dụ: não, ngoại biên) cũng có thể xảy ra. Cần có mức độ nghi ngờ huyết khối cao khi đánh giá các bệnh nhân dễ bị tổn thương có đặt ống thông mà xuất hiện các triệu chứng gợi ý thuyên tắc phổi hoặc tổn thương thần kinh cấp tính. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Siêu âm Doppler là xét nghiệm hình ảnh ban đầu được lựa chọn khi nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch chi trên liên quan đến ống thông ở cả bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng. Những bệnh nhân đã từng bị DVT trước đó nên được tầm soát độ thông thương của các tĩnh mạch trung tâm lồng ngực trước khi đặt ống thông tiếp theo. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)

Viêm tĩnh mạch nông – Viêm tĩnh mạch nông liên quan đến ống thông tĩnh mạch ngoại biên nên được quản lý đầu tiên bằng cách ngừng truyền tĩnh mạch và rút bỏ ống thông ngoại biên. Chăm sóc triệu chứng bao gồm nâng cao chi, chườm ấm hoặc chườm mát, và sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) đường uống. Đau quá mức không kiểm soát được bằng NSAID có thể cho thấy sự hiện diện của viêm tĩnh mạch nhiễm khuẩn, viêm tĩnh mạch do hóa chất, hoặc tổn thương do thoát mạch. (Xem ‘Viêm tĩnh mạch’ ở dưới.)

Huyết khối tĩnh mạch sâu chi trên – Đối với bệnh nhân được chẩn đoán mắc DVT chi trên liên quan đến ống thông, chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc chống đông (Khuyến cáo 2B). Đối với các trường hợp không có biến chứng, ba tháng điều trị chống đông là đủ. Thời gian dùng thuốc chống đông dài hơn có thể được chỉ định nếu ống thông vẫn còn lưu, đặc biệt là đối với những bệnh nhân mắc bệnh ác tính. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới và “Tổng quan về tắc nghẽn tĩnh mạch trung tâm lồng ngực”, mục ‘Quản lý’.)

Đối với hầu hết bệnh nhân mắc DVT chi trên liên quan đến ống thông, chúng tôi đề xuất không áp dụng liệu pháp tiêu huyết khối tĩnh mạch sâu như một liệu pháp đầu tay (Khuyến cáo 2C). So với thuốc chống đông, không có đủ bằng chứng cho thấy tiêu huyết khối mang lại kết quả tốt hơn. (Xem ‘Tiêu huyết khối tĩnh mạch sâu’ ở dưới và “Tổng quan về tắc nghẽn tĩnh mạch trung tâm lồng ngực”, mục ‘Can thiệp nội mạch’.)

Ống thông có thể được giữ nguyên tại chỗ nếu nó vẫn hoạt động tốt, đầu ống thông được đặt đúng vị trí và vẫn có chỉ định lâm sàng để sử dụng. Đối với những bệnh nhân không mắc bệnh ác tính có huyết khối khu trú tại tĩnh mạch cánh tay, vẫn còn sự không chắc chắn về nhu cầu dùng thuốc chống đông sau khi ống thông đã được rút bỏ. (Xem ‘Quản lý ống thông’ ở dưới.)

Dự phòng huyết khối liên quan đến ống thông – Đối với hầu hết bệnh nhân có đặt ống thông chi trên lưu, chúng tôi khuyến cáo không sử dụng thuốc chống đông dự phòng (thuốc kháng vitamin K, heparin trọng lượng phân tử thấp, heparin không phân đoạn) (Khuyến cáo 1A). Đối với bệnh nhân mắc bệnh ác tính, chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc chống đông dự phòng, đặc biệt là ở những bệnh nhân nhập viện (Khuyến cáo 2A). Việc sử dụng thuốc chống đông dự phòng cho những bệnh nhân nguy cơ cao trong môi trường ngoại trú có thể hợp lý khi nguy cơ huyết khối cảm nhận được lớn hơn nguy cơ chảy máu. Các yếu tố nguy cơ cao bao gồm tiền sử huyết khối tĩnh mạch, khối u lớn, bệnh lý tăng đông di truyền, hoặc vị trí đầu ống thông không tối ưu. (Xem ‘Dự phòng huyết khối’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here