TÓM TẮT
Định nghĩa – Ho mạn tính ở trẻ em được định nghĩa là tình trạng ho kéo dài trên bốn tuần. “Ho đặc hiệu” là tình trạng ho mạn tính có nguyên nhân cuối cùng được xác định là do một bất thường hoặc bệnh lý nền, thường là (nhưng không phải luôn luôn) có nguồn gốc từ phổi (bảng 1). Ngược lại, “ho không đặc hiệu” được định nghĩa là ho mạn tính không tìm thấy nguyên nhân xác định sau khi đã thực hiện các đánh giá lâm sàng hợp lý. (Xem mục Định nghĩa ở dưới.)
Đánh giá – Việc đánh giá một trẻ ho mạn tính cần bao gồm khai thác bệnh sử chi tiết, khám lâm sàng, chụp X-quang ngực và đo hô hấp ký (nếu có thể thực hiện ở trẻ trên 5 tuổi) theo sơ đồ tiếp cận (sơ đồ 1). Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý nguyên nhân đặc hiệu của tình trạng ho được tóm tắt trong bảng (bảng 2). Nếu kết quả đánh giá ban đầu cung cấp các manh mối gợi ý một nguyên nhân cụ thể, việc chẩn đoán tiếp theo sẽ tập trung vào khả năng đó. (Xem “Tiếp cận ho mạn tính ở trẻ em”.)
Các nguyên nhân chính gây ho mạn tính và xử trí ban đầu
Viêm phế quản vi khuẩn kéo dài (PBB) – PBB là nguyên nhân gây ho mạn tính phổ biến ở trẻ nhỏ (dưới 5 tuổi) tại Úc, Châu Âu và các quần thể tương tự.
- Chẩn đoán sơ bộ PBB có thể được đặt ra ở trẻ có biểu hiện ho mạn tính có đờm, không có triệu chứng khác và không có bằng chứng của các chẩn đoán thay thế (ví dụ: dị vật đường thở hoặc viêm phổi) sau khi đánh giá lâm sàng tiêu chuẩn. (Xem mục Viêm phế quản vi khuẩn kéo dài ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân có chẩn đoán sơ bộ PBB, chúng tôi đề nghị điều trị bằng kháng sinh (Khuyến cáo 2B). Các thử nghiệm ngẫu nhiên quy mô nhỏ cho thấy kháng sinh giúp cải thiện khả năng hết ho ở trẻ ho mạn tính có đờm so với giả dược. Chúng tôi thường điều trị bằng amoxicillin-clavulanate đường uống trong hai tuần. Các lựa chọn thay thế bao gồm cephalosporin thế hệ hai hoặc ba đường uống, trimethoprim-sulfamethoxazole hoặc macrolide. Không nên sử dụng Azithromycin trong trường hợp này do thiếu bằng chứng về hiệu quả và lo ngại về việc gây kháng thuốc. (Xem mục Viêm phế quản vi khuẩn kéo dài ở dưới.)
- Đối với những trẻ vẫn tiếp tục ho sau hai tuần dùng kháng sinh, chúng tôi đề nghị kéo dài liệu trình kháng sinh (lên đến bốn tuần) (Khuyến cáo 2C). Điều này dựa trên kinh nghiệm lâm sàng và một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy điều trị trong bốn tuần cải thiện một số (nhưng không phải tất cả) kết cục; hiện cần thêm dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng. (Xem mục Viêm phế quản vi khuẩn kéo dài ở dưới.)
- Nếu tình trạng ho có đờm không cải thiện sau liệu trình kháng sinh bốn tuần, hoặc nếu PBB tái phát thường xuyên (trên 3 lần trong 12 tháng), bệnh nhân cần được đánh giá thêm để tìm các nguyên nhân khác, bao gồm dị vật đường thở, bất thường bẩm sinh, giãn phế quản và các bệnh lý gây giãn phế quản như xơ nang, loạn động cilia nguyên phát và suy giảm miễn dịch.
Hen phế quản – Hen là nguyên nhân phổ biến gây ho mạn tính ở trẻ em mọi lứa tuổi; đặc điểm điển hình là ho khan, trừ khi có nhiễm trùng đường hô hấp đi kèm. Bệnh thường đi kèm với triệu chứng khò khè, nhưng một số trẻ có thể chỉ biểu hiện ho là triệu chứng chính hoặc duy nhất của hen. Do đó, việc đánh giá ho mạn tính ở trẻ em cần khai thác kỹ các triệu chứng lâm sàng như khó thở khi gắng sức, khò khè tái phát hoặc cơ địa dị ứng, kết hợp với đo hô hấp ký và đánh giá đáp ứng với thuốc giãn phế quản. Nếu đánh giá ban đầu gợi ý chẩn đoán sơ bộ là hen, bước tiếp theo là điều trị thử bằng thuốc điều trị hen (dùng thử thuốc giãn phế quản [beta-2 agonist tác dụng ngắn] và/hoặc corticosteroid hít liều thấp) trong hai đến bốn tuần, sau đó đánh giá lại (sơ đồ 1). Không nên tiếp tục dùng thuốc điều trị hen trừ khi chẩn đoán hen được xác lập một cách chắc chắn. (Xem mục Hen suyễn ở dưới.)
Dị vật đường thở – Luôn phải cân nhắc khả năng hít phải dị vật ở trẻ nhỏ ho mạn tính có tiền sử khởi phát đột ngột sau một cơn sặc hoặc bắt đầu sau khi ăn hoặc chơi. Những trẻ này cần được chụp X-quang ngực là bước đầu tiên, đồng thời phải được chuyển đến chuyên khoa để đánh giá và nội soi phế quản khẩn cấp, bất kể kết quả X-quang như thế nào. (Xem mục Dị vật đường thở hít vào còn sót lại ở dưới và “Dị vật đường thở ở trẻ em”.)
Ho tic – Ho tic (hay còn gọi là ho thói quen) mô tả tình trạng ho có các đặc điểm lặp đi lặp lại và mang tính thói quen tương tự như một tic âm thanh. Các đặc điểm chính bao gồm: có thể tự kiềm chế được, dễ bị phân tâm, dễ bị ám thị, có tính thay đổi và có cảm giác báo trước. Nhiều trường hợp có thể điều trị thành công bằng liệu pháp ám thị (bảng 5). (Xem mục Ho tic (ho theo thói quen) và rối loạn ho thể chất (ho do tâm lý) ở dưới.)