TÓM TẮT
Định nghĩa – Đánh trống ngực là tình trạng bệnh nhân cảm nhận rõ rệt nhịp tim của mình, thường gây lo lắng (ví dụ: nhịp quá nhanh, không đều hoặc quá mạnh). (Xem thêm ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Ở trẻ em, đánh trống ngực thường xuất phát từ các kích thích sinh lý như sốt, vận động, lo âu hoặc thiếu máu, thay vì các nguyên nhân đe dọa tính mạng (ví dụ: loạn nhịp tim) (bảng 1). (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Tiền sử – Trẻ có nguyên nhân tiềm ẩn nghiêm trọng gây đánh trống ngực thường có tiền sử ngất, bệnh tim bẩm sinh hoặc từng phẫu thuật tim. Đánh trống ngực do các cơn nhịp nhanh đe dọa tính mạng thường khởi phát và kết thúc đột ngột (tương tự như việc bật/tắt công tắc đèn). (Xem thêm ‘Tiền sử’ ở dưới.)
Tiếp cận – Những bệnh nhân có tình trạng lâm sàng nặng kèm đánh trống ngực cần được đánh giá nhanh tình trạng thiếu oxy máu, hạ đường huyết và huyết động không ổn định. Bác sĩ lâm sàng nên xử trí cấp cứu cho bệnh nhân suy tuần hoàn theo hướng dẫn hồi sức tim phổi của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) (sơ đồ 1, sơ đồ 2 và sơ đồ 3). (Xem thêm ‘Khám lâm sàng’ và ‘Tiếp cận theo sơ đồ’ ở dưới.)
Tất cả bệnh nhân đánh trống ngực đều cần được theo dõi điện tim và ghi điện tâm đồ (ECG) 12 chuyển đạo trong quá trình đánh giá. Các xét nghiệm bổ sung sẽ được chỉ định dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng. (Xem thêm ‘Các thăm dò cận lâm sàng’ ở dưới.)
Những trẻ có tiền sử ngất, bệnh tim bẩm sinh hoặc từng phẫu thuật tim có nguy cơ cao gặp tình trạng loạn nhịp tim là nguyên nhân gây đánh trống ngực. Những trường hợp này cần có sự phối hợp của bác sĩ tim mạch nhi sớm trong quá trình đánh giá để thực hiện siêu âm tim tìm bất thường cấu trúc tim và các thăm dò chuyên sâu về rối loạn nhịp. (Xem thêm ‘Tiếp cận theo sơ đồ’ ở dưới.)