TÓM TẮT
Một số chuyên đề cung cấp thêm thông tin chi tiết về gãy xương, bao gồm sinh lý liền xương, cách mô tả hình ảnh X-quang gãy xương cho bác sĩ tư vấn, xử trí gãy xương giai đoạn cấp cứu và điều trị triệt để (bao gồm cả kỹ thuật bó bột), cũng như các biến chứng liên quan. Bạn có thể truy cập các nội dung này thông qua các liên kết dưới đây:
- (Xem “Nguyên tắc chung trong điều trị gãy xương: Quá trình liền xương và mô tả gãy xương”.)
- (Xem “Nguyên tắc chung trong điều trị gãy xương: Các kiểu gãy và mô tả gãy xương ở trẻ em”.)
- (Xem “Nguyên tắc chung trong xử trí gãy xương giai đoạn cấp cứu”.)
- (Xem “Nguyên tắc chung trong điều trị gãy xương triệt để”.)
- (Xem “Nguyên tắc chung trong điều trị gãy xương: Biến chứng sớm và muộn”.)
TÓM TẮT
Giải phẫu – Xương chày là xương chịu lực chính của cẳng chân (Hình 1 và Hình 2). Ở trẻ em, cả xương chày và xương mác đều gồm phần thân xương dài (diaphysis) với các đĩa sụn tăng trưởng ở hai đầu (Hình 3). (Xem mục ‘Giải phẫu’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Trẻ gãy xương chày thường biểu hiện bằng dáng đi khập khiễng, đau, không chịu tỳ trọng lượng và/hoặc biến dạng chi dưới. Chấn thương thể thao và tai nạn giao thông là những cơ chế gây chấn thương phổ biến ở trẻ lớn và thanh thiếu niên (Hình 1). Ngã nhẹ và chấn thương vặn xoắn là nguyên nhân gây gãy xương chính ở trẻ tập đi và trẻ nhỏ. (Xem mục ‘Dịch tễ học’ và ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Lâm sàng cần thực hiện thăm khám toàn diện, đặc biệt lưu ý các dấu hiệu gợi ý đa chấn thương, gãy xương hở, hội chứng chèn ép khoang cấp và/hoặc nghi ngờ ngược đãi trẻ em. (Xem mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh – X-quang quy ước thường đủ để xác định các tổn thương cấp tính của xương chày ở trẻ em, bao gồm tư thế thẳng (AP) và nghiêng. Phim chụp phải bao quát toàn bộ chiều dài cẳng chân từ gối đến cổ chân. (Xem mục ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Gãy đĩa sụn tăng trưởng đầu trên hoặc đầu dưới được phân loại theo hệ thống Salter-Harris (Hình 5). (Xem mục ‘Phân loại’ ở dưới và “Nguyên tắc chung trong điều trị gãy xương: Các kiểu gãy và mô tả gãy xương ở trẻ em”, phần ‘Mô tả gãy sụn tăng trưởng’.)
Các tổn thương xương chày không liên quan đến sụn tăng trưởng được phân loại theo vị trí (đầu trên, thân xương hoặc đầu dưới). (Xem mục ‘Phân loại’ ở dưới.)
Xử trí ban đầu – Đối với bệnh nhân gãy xương kín và không có dấu hiệu tổn thương thần kinh mạch máu, xử trí ban đầu tập trung vào kiểm soát đau, cố định vùng gãy và giảm sưng. (Xem mục ‘Xử trí ban đầu’ ở dưới.)
Việc điều trị gãy xương chày theo từng vị trí được thảo luận chi tiết hơn trong các chuyên đề riêng biệt:
- Gãy đầu trên xương chày (xem “Gãy đầu trên xương chày ở trẻ em”)
- Gãy thân xương chày (xem “Gãy thân xương chày và xương mác ở trẻ em”)
- Gãy sụn tăng trưởng đầu dưới xương chày và mắt cá (xem “Gãy xương vùng cổ chân ở trẻ em”, phần ‘Gãy đầu dưới xương chày’)