TÓM TẮT
Định nghĩa – Homocysteine là một amino acid trung gian được hình thành từ quá trình chuyển hóa methionine thành cysteine. Tình trạng tăng nồng độ homocysteine trong huyết tương khá phổ biến, gặp ở khoảng 5% đến 7% dân số. (Xem mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Nguyên nhân gây tăng homocysteine máu – Homocysteine được chuyển hóa qua một trong hai con đường: transsulfuration (chuyển sulfur) và remethylation (tái methyl hóa) (hình 1). Các vitamin đóng vai trò thiết yếu trong quá trình chuyển hóa này. Tăng nồng độ homocysteine huyết tương có thể do các yếu tố sau:
- Yếu tố di truyền: phổ biến nhất là biến thể kém bền nhiệt của enzyme methylenetetrahydrofolate reductase làm giảm hoạt tính enzyme (đột biến T).
- Thiếu hụt vitamin: đặc biệt là thiếu folate, vitamin B6 hoặc vitamin B12.
- Bệnh thận mạn: làm tăng nồng độ homocysteine do giảm độ thanh thải tại thận và suy giảm chuyển hóa.
- Một số thuốc: bao gồm fibrates, acid nicotinic, metformin và methotrexate.
- Hút thuốc lá.
(Xem mục ‘Nguyên nhân gây tăng homocysteine máu’ ở dưới.)
Chỉ định xét nghiệm – Nhìn chung, chúng tôi chỉ đo nồng độ homocysteine huyết thanh ở những bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh homocystinuria và không chỉ định trong các tình huống lâm sàng khác. (Xem mục ‘Chỉ định xét nghiệm’ và ‘Đo lường homocysteine trong phòng thí nghiệm’ ở dưới.)
Bệnh homocystinuria – Homocystinuria là một bệnh lý hiếm gặp, thường được phát hiện thông qua sàng lọc sơ sinh ở nhiều khu vực. Bệnh biểu hiện ở trẻ em và thanh thiếu niên với các triệu chứng như chậm phát triển, hình thái kiểu Marfan, loãng xương, bất thường về mắt (lệch thủy tinh thể), bệnh lý thuyên tắc huyết khối, xơ vữa động mạch sớm nghiêm trọng và nồng độ homocysteine huyết tương tăng rất cao. Đối với những bệnh nhân hiếm gặp có tình trạng tăng homocysteine máu nặng liên quan đến homocystinuria, chúng tôi khuyến cáo chuyển gửi đến cả chuyên gia về bệnh lý chuyển hóa và chuyên gia dinh dưỡng. (Xem mục ‘Chỉ định xét nghiệm’ và ‘Điều trị’ ở dưới.)
Mối liên hệ với các bệnh lý – Nồng độ homocysteine tăng vừa phải có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và các biến chứng sản khoa. Trong các nghiên cứu thực nghiệm, homocysteine có đặc tính gây xơ vữa và thúc đẩy hình thành huyết khối, gợi ý cơ chế tiềm tàng cho những mối liên hệ này. (Xem mục ‘Mối liên hệ với các bệnh lý’ ở dưới.)
Vai trò hạn chế của điều trị – Chúng tôi khuyến cáo không thực hiện xét nghiệm hoặc điều trị tăng homocysteine máu (Khuyến cáo 2B) trừ khi nghi ngờ hoặc đã xác định mắc bệnh homocystinuria (xem mục ‘Bệnh nhân mắc bệnh tim mạch hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch’ ở dưới). Mặc dù còn một số hạn chế, các thử nghiệm lâm sàng nhìn chung cho thấy việc giảm nồng độ homocysteine bằng cách bổ sung vitamin nhóm B không giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch hoặc giảm tỷ lệ tái phát thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch hay huyết khối động mạch.