TÓM TẮT
Định nghĩa – Hồi hộp (đánh trống ngực) được định nghĩa là sự nhận thức khó chịu về việc tim đập mạnh, nhanh hoặc không đều. Bệnh nhân có thể mô tả cảm giác này là tim đập phập phồng nhanh, cảm giác như tim “lộn nhào” trong lồng ngực, hoặc cảm giác tim đập thình thịch ở ngực hoặc cổ; những mô tả chi tiết về cảm giác chủ quan của bệnh nhân có thể giúp lâm sàng xác định nguyên nhân gây hồi hộp. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Các nguyên nhân thường gặp được trình bày trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Các nguyên nhân tim mạch thường gặp bao gồm ngoại tâm thu trên thất hoặc thất, xuất hiện loạn nhịp mới, hoặc thay đổi đáng kể về tần số của một tình trạng loạn nhịp vốn đã ổn định trước đó. Các nguyên nhân tim mạch ít gặp hơn bao gồm bệnh lý van tim, hội chứng máy tạo nhịp, u nhầy tâm nhĩ và các tình trạng tăng cung lượng tim.
Hồi hộp cũng là một đặc điểm lâm sàng của một số rối loạn tâm thần, bao gồm cơn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa và rối loạn triệu chứng cơ thể.
Các nguyên nhân quan trọng khác gây hồi hộp liên quan đến tác dụng của thuốc, sử dụng chất kích thích hoặc các chất khác, rối loạn nội tiết và bất thường chuyển hóa.
Tiếp cận chẩn đoán – Khai thác bệnh sử tập trung, thăm khám lâm sàng, đo ECG 12 chuyển đạo và một số xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản có thể xác định nguyên nhân gây hồi hộp ở hầu hết bệnh nhân. (Xem ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới.)
Bệnh nhân có triệu chứng khi thăm khám – Đối với những bệnh nhân đang có triệu chứng hồi hộp tại thời điểm thăm khám, chúng tôi chỉ định đo ECG 12 chuyển đạo ngay lập tức và thăm khám lâm sàng tập trung, đặc biệt chú trọng vào hệ tim mạch (xem ‘Bệnh nhân hồi hộp tại thời điểm thăm khám’ ở dưới):
- Những trường hợp ECG xác nhận có loạn nhịp cần được đánh giá tình trạng ổn định huyết động, đồng thời điều trị loạn nhịp cụ thể và xử lý nguyên nhân hoặc biến chứng đi kèm.
- Nếu ECG 12 chuyển đạo không phát hiện loạn nhịp, việc thăm khám tim có thể giúp phát hiện các cơn loạn nhịp, đặc biệt là các ngoại tâm thu thất hoặc ngoại tâm thu nhĩ thưa, vốn không được ghi nhận do thời gian đo ECG ngắn nhưng có thể phát hiện được qua vài phút nghe tim.
Bệnh nhân không có triệu chứng khi thăm khám – Đối với những bệnh nhân hiện không có triệu chứng, chúng tôi khai thác chi tiết đặc điểm của cơn hồi hộp và tiền sử lâm sàng liên quan, bao gồm tiền sử bệnh tim của bản thân và gia đình, các thuốc đang sử dụng, việc dùng rượu và chất kích thích, cùng với việc rà soát tập trung các cơ quan (ví dụ: triệu chứng cường giáp hoặc các rối loạn nội tiết khác). (Xem ‘Bệnh sử’ ở dưới.)
Thăm khám lâm sàng tập trung – Thăm khám lâm sàng có thể phát hiện những bất thường gợi ý nguyên nhân gây hồi hộp. Chúng tôi kiểm tra nhiệt độ, huyết áp, mạch, nhịp thở và khám tim mạch cẩn thận. Khám phổi có thể cung cấp manh mối về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Chúng tôi cũng đánh giá các dấu hiệu của bất thường nội tiết. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng tập trung’ ở dưới.)
ECG cho tất cả bệnh nhân – Tất cả bệnh nhân hồi hộp cần được đo ECG 12 chuyển đạo như một phần của đánh giá ban đầu. Mặc dù hầu hết bệnh nhân có nhịp xoang khi đo ECG lần đầu, nhưng cần phân tích ECG để tìm các dấu hiệu gợi ý bệnh lý cấu trúc tim tiềm ẩn hoặc rối loạn hệ thống dẫn truyền điện. (Xem ‘ECG 12 chuyển đạo’ ở dưới.)
Xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản – Hiện chưa có hướng dẫn dựa trên bằng chứng cụ thể để định hướng các xét nghiệm cận lâm sàng cho bệnh nhân hồi hộp. Ở đa số bệnh nhân, chúng tôi thực hiện các xét nghiệm cơ bản để loại trừ thiếu máu và cường giáp, đồng thời làm xét nghiệm độc chất khi nghi ngờ sử dụng chất kích thích. (Xem ‘Xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản’ ở dưới.)
Siêu âm tim cho một số đối tượng – Chúng tôi chỉ định siêu âm tim cho những bệnh nhân có tiền sử, thăm khám lâm sàng hoặc ECG nghi ngờ có bệnh lý cấu trúc tim. Nhóm này bao gồm những người có tiền sử gia đình, có triệu chứng hoặc ECG gợi ý bệnh cơ tim phì đại; có tiếng thổi khi thăm khám lâm sàng; hoặc có ECG xuất hiện sóng Q gợi ý nhồi máu cơ tim cũ, block nhánh trái, hoặc các thay đổi phù hợp với phì đại thất. (Xem ‘Nghi ngờ bệnh lý cấu trúc tim’ ở dưới.)
Chỉ định theo dõi nhịp tim lưu động – Chúng tôi dựa trên bệnh sử, kết quả thăm khám lâm sàng, ECG 12 chuyển đạo và siêu âm tim (nếu có) để xác định nhu cầu đánh giá thêm, bao gồm theo dõi nhịp tim lưu động (ambulatory cardiac rhythm monitoring). (Xem ‘Lựa chọn phương pháp theo dõi nhịp tim lưu động’ ở dưới.)
Chúng tôi chỉ định theo dõi nhịp tim lưu động cho tất cả bệnh nhân mà đánh giá chẩn đoán ban đầu gợi ý khả năng mắc một rối loạn được biết là có liên quan đến sự phát triển của nhịp nhanh thất:
- Cơn hồi hộp kéo dài, khó dung nạp, hoặc đi kèm với ngất hoặc tiền ngất.
- Bệnh tim thực thể (ví dụ: sẹo do nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim giãn do bất kỳ nguyên nhân nào, bệnh van tim có ý nghĩa lâm sàng, bệnh cơ tim phì đại).
- Tiền sử bản thân hoặc gia đình có loạn nhịp, ngất, đột tử, bệnh cơ tim hoặc hội chứng QT kéo dài.
Việc nhập viện theo dõi có thể phù hợp hơn đối với những bệnh nhân có triệu chứng thường xuyên kèm theo ngất.
Đối với những bệnh nhân có nguy cơ thấp mắc các loạn nhịp nguy hiểm (ví dụ: hồi hộp không kéo dài, dung nạp tốt và không có bằng chứng bệnh tim qua bệnh sử, thăm khám lâm sàng hoặc ECG 12 chuyển đạo), chúng tôi thường không chỉ định theo dõi nhịp tim lưu động. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân quá lo lắng về triệu chứng và cần được trấn an, chúng tôi sẽ thực hiện theo dõi sự kiện (event monitoring) trong hai tuần.
Chuyển chuyên khoa thăm dò điện sinh lý – Khi theo dõi nhịp tim lưu động không tìm thấy bất thường, chúng tôi chuyển bệnh nhân đi thăm dò điện sinh lý nếu cơn hồi hộp kéo dài, khó dung nạp hoặc bệnh nhân có xác suất tiền test cao mắc loạn nhịp nghiêm trọng (ví dụ: bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim). (Xem ‘Chuyển chuyên khoa thăm dò điện sinh lý’ ở dưới.)
Điều trị – Việc quản lý bệnh nhân hồi hộp tùy thuộc vào nguyên nhân nghi ngờ hoặc đã được xác định. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
- Đối với những bệnh nhân mà đánh giá ban đầu gợi ý nguyên nhân nội khoa, chúng tôi tiến hành điều trị hoặc can thiệp thích hợp.
- Đối với những bệnh nhân hồi hộp không tìm thấy nguyên nhân, chúng tôi đánh giá các rối loạn tâm thần thường gặp có thể gây ra triệu chứng này, chẳng hạn như rối loạn lo âu hoặc rối loạn hoảng sợ. Nếu phù hợp, cần điều trị tình trạng tâm thần nền hoặc chuyển bệnh nhân đến chuyên gia y học hành vi để đánh giá và quản lý thêm.
- Đối với những bệnh nhân hồi hộp nhưng kết quả theo dõi lưu động ghi nhận nhịp xoang và các đánh giá khác bình thường, chúng tôi trấn an bệnh nhân về tính chất lành tính của triệu chứng, đồng thời hướng dẫn họ theo dõi nếu tần suất, mức độ hồi hộp tăng lên hoặc xuất hiện các triệu chứng mới đi kèm, vì đó có thể là chỉ định để đánh giá sâu hơn.