TÓM TẮT
-
Tổng quan – Phẫu thuật vùng chậu ở nữ giới đòi hỏi kiến thức toàn diện về giải phẫu vùng chậu để tiếp cận an toàn, tối đa hóa trường phẫu thuật, đảm bảo cầm máu và tránh tổn thương tạng, mạch máu cũng như thần kinh. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
-
Tử cung – Tử cung bao gồm thân tử cung và cổ tử cung (hình 2). Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, thân tử cung lớn hơn nhiều so với cổ tử cung; trong khi ở giai đoạn tiền dậy thì và sau mãn kinh, hai phần này có kích thước tương đương. Tuy nhiên, kích thước tử cung có thể thay đổi đáng kể tùy thuộc vào nồng độ hormone, tiền sử sinh nở hoặc sự hiện diện của các bệnh lý tử cung (ví dụ: u xơ, lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung). (Xem ‘Tử cung’ ở dưới.)
-
Hệ thống nâng đỡ tử cung – Sự nâng đỡ tử cung được đảm nhiệm bởi phức hợp dây chằng tử cung – cùng/dây chằng ngang (cardinal ligament), dây chằng tròn và dây chằng rộng. Sự suy yếu của hệ thống nâng đỡ này dẫn đến sa tử cung và/hoặc sa vòm âm đạo. (Xem ‘Các cấu trúc nâng đỡ tử cung’ ở dưới.)
-
Hệ mạch máu tử cung – Động mạch tử cung bắt nguồn từ nhánh trước của động mạch chậu trong trong khoang sau phúc mạc, đi qua dây chằng ngang và băng qua niệu quản. Sau đó, chúng đi vào tử cung ở ngang mức lỗ trong cổ tử cung, chia thành các nhánh đi lên phía thân tử cung và đi xuống phía cổ tử cung (hình 9). Các nhánh ở thân tử cung nối với các mạch máu từ động mạch buồng trứng, tạo ra mạng lưới tuần hoàn bàng hệ. (Xem ‘Cung cấp máu cho tử cung, vòi tử cung và buồng trứng’ ở dưới.)
-
Hệ mạch máu buồng trứng – Động mạch buồng trứng xuất phát từ động mạch chủ bụng. Tĩnh mạch buồng trứng phải đổ về tĩnh mạch chủ dưới, trong khi tĩnh mạch buồng trứng trái đổ về tĩnh mạch thận trái. Các mạch máu buồng trứng đi trong dây chằng treo buồng trứng (infundibulopelvic ligaments) nằm sát niệu quản, dọc theo bờ trong cơ thắt lưng chậu. (Xem ‘Cung cấp máu cho tử cung, vòi tử cung và buồng trứng’ ở dưới.)
-
dẫn lưu bạch huyết – Hệ bạch huyết vùng chậu đi theo các mạch máu, với các hạch nằm ở phía trước, sau hoặc bên các mạch máu. Hệ bạch huyết này nằm trong khoang sau phúc mạc, tương tự như hệ mạch máu vùng chậu, bao gồm các hạch chậu chung, chậu ngoài, chậu trong, hạch cùng trong và hạch cạnh trực tràng (hình 10 và hình 11). (Xem ‘Hệ bạch huyết’ ở dưới.)
-
Chi phối thần kinh – Buồng trứng và vòi tử cung được chi phối bởi một đám rối thần kinh bắt nguồn từ đám rối thận, với các sợi từ T10 và sợi đối giao cảm từ dây thần kinh phế vị chạy dọc theo các mạch máu buồng trứng (hình 12). Thần kinh chi phối vùng chậu đi qua đám rối hạ vị trên (hình 12), một đám rối hạch nằm trên chỗ chia đôi của động mạch chủ trong khoang trước xương cùng. (Xem ‘Thần kinh’ ở dưới.)
-
Các mặt phẳng không mạch máu – Vùng chậu có nhiều khoang tiềm tàng và các mặt phẳng mô liên kết cho phép hệ tiết niệu, sinh dục và tiêu hóa hoạt động độc lập với nhau (hình 13). Các mặt phẳng này không chứa mạch máu và thần kinh, được lấp đầy bởi mô liên kết thưa, cho phép phẫu thuật bóc tách cùn mà không làm tổn thương các cấu trúc này. (Xem ‘Các mặt phẳng không mạch máu’ ở dưới.)