TÓM TẮT
Các bệnh lý thường gặp và đánh giá ban đầu – Những bệnh lý bìu không cấp tính thường gặp nhất bao gồm giãn tĩnh mạch thừng tinh, tràn dịch màng tinh hoàn, nang mào tinh và nang tinh, ung thư tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn mạn tính và tinh hoàn ẩn. Trong trường hợp khám lâm sàng không đưa ra chẩn đoán xác định, cần thực hiện siêu âm bìu. Nên chuyển bệnh nhân đến bác sĩ tiết niệu nếu kết quả siêu âm vẫn chưa rõ ràng, nếu nghi ngờ ung thư tinh hoàn, hoặc khi cân nhắc phẫu thuật điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh hoặc tràn dịch màng tinh hoàn. (Xem thêm phần ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Giãn tĩnh mạch thừng tinh – Bệnh lý này biểu hiện bằng cảm giác căng tức bìu bên trái, kích thước thay đổi và khi sờ có cảm giác như “một túi giun”. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng hoặc kèm theo đau âm ỉ vùng bìu. Hiện nay, không còn khuyến cáo chẩn đoán hình ảnh ổ bụng thường quy cho các trường hợp giãn tĩnh mạch thừng tinh nhỏ đơn độc hoặc chỉ xuất hiện bên phải.
Nếu giãn tĩnh mạch thừng tinh ở một hoặc cả hai bên không giảm khi bệnh nhân nằm ngửa (không thu nhỏ), cần nghi ngờ có tình trạng tắc nghẽn và nên đánh giá bằng chụp CT để tìm bệnh lý tiềm ẩn. (Xem thêm phần ‘Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)
Điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh – Các trường hợp giãn tĩnh mạch thừng tinh gây đau được điều trị bằng phẫu thuật thắt tĩnh mạch. Đa số các trường hợp không đau không cần can thiệp. Chúng tôi khuyến cáo thắt phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch gây tắc tĩnh mạch ở nam giới ≤21 tuổi nếu giãn tĩnh mạch thừng tinh đi kèm với teo tinh hoàn hoặc giảm chất lượng tinh trùng (Khuyến cáo 2C). Đối với nam giới trẻ có các thông số tinh dịch đồ bình thường, khuyến cáo theo dõi bằng tinh dịch đồ mỗi 1 đến 2 năm. Nam giới lớn tuổi có giãn tĩnh mạch thừng tinh nhưng tinh dịch đồ bình thường có thể theo dõi định kỳ 2 năm một lần nếu vẫn có nhu cầu sinh con (sơ đồ 1). (Xem thêm phần ‘Xử trí’ ở dưới.)
Tràn dịch màng tinh hoàn – Biểu hiện là sưng bìu lan tỏa một bên hoặc hai bên, mật độ đồng nhất. Tràn dịch màng tinh hoàn kích thước nhỏ thường không gây triệu chứng, trong khi kích thước lớn có thể gây đau đáng kể. Hầu hết các trường hợp không cần can thiệp. Tuy nhiên, chúng tôi khuyến cáo điều trị cho những bệnh nhân có triệu chứng đau, cảm giác căng tức hoặc khi da bìu tổn thương do kích ứng mạn tính (Khuyến cáo 2C). Phương pháp phẫu thuật phổ biến nhất là bóc tách bao màng tinh hoàn. Chọc hút đơn thuần thường không hiệu quả do dịch tái tích tụ nhanh chóng. (Xem thêm phần ‘Tràn dịch màng tinh hoàn’ ở dưới.)
Nang mào tinh và nang tinh – Nang mào tinh và nang tinh (nang mào tinh có kích thước >2 cm) biểu hiện bằng một khối căng cục bộ tại đầu mào tinh và thường không gây triệu chứng. Nang mào tinh thường không cần điều trị, nhưng nang tinh đôi khi cần phẫu thuật cắt bỏ nếu gây đau mạn tính. (Xem thêm phần ‘Nang mào tinh/nang tinh’ ở dưới.)
Ung thư tinh hoàn – Biểu hiện là một nốt cứng, không đau trên tinh hoàn. Bệnh thường không gây triệu chứng nhưng đôi khi đi kèm với hiện tượng nữ hóa tuyến vú. Bệnh nhân có nốt hoặc khối u ở tinh hoàn cần được siêu âm bìu. MRI là một công cụ hỗ trợ hữu ích khi kết quả siêu âm không rõ ràng hoặc cho thấy có vi vôi hóa trong tinh hoàn nhưng không thấy khối u rõ rệt. (Xem thêm phần ‘Đánh giá’, ‘Ung thư tinh hoàn’ ở dưới và “Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và phân giai đoạn của u tế bào mầm tinh hoàn”.)
Viêm mào tinh hoàn mạn tính – Nguyên nhân có thể do nhiễm trùng hoặc không do nhiễm trùng. Bệnh biểu hiện bằng sưng và đau khu trú ở mặt sau tinh hoàn (thường không kèm theo các triệu chứng đường tiết niệu dưới). Xử trí viêm mào tinh hoàn mạn tính do nhiễm trùng tương tự như viêm mào tinh hoàn cấp tính. Đối với viêm mào tinh hoàn mạn tính không do nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo nâng bìu, dùng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và tránh các hoạt động làm khởi phát triệu chứng (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm “Đau bìu cấp tính ở người lớn: Đánh giá và xử trí các nguyên nhân chính” và ‘Viêm mào tinh hoàn mạn tính’ ở dưới.)
Tinh hoàn ẩn – Tinh hoàn ẩn là tình trạng tinh hoàn không di chuyển xuống bìu trong quá trình phát triển của thai nhi. Cả tinh hoàn ẩn một bên và hai bên đều liên quan đến suy giảm quá trình sinh tinh và tăng nguy cơ ung thư tinh hoàn. Đại đa số các trường hợp tinh hoàn ẩn được xử lý trong thời thơ ấu. Nếu phát hiện tinh hoàn ẩn ở nam giới <50 tuổi, chúng tôi khuyến cáo phẫu thuật cắt bỏ để ngăn ngừa ung thư tinh hoàn (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm phần ‘Tinh hoàn ẩn’ ở dưới.)