TÓM TẮT
-
Cơ chế tác dụng – Hydroxyurea làm giảm các biến cố tắc mạch như cơn đau và hội chứng ngực cấp (ACS) ở bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm (SCD). Cơ chế quan trọng nhất là làm tăng nồng độ huyết sắc tố bào thai (Hb F), từ đó giảm quá trình polyme hóa huyết sắc tố S (Hb S), giảm hiện tượng hình liềm và giảm tắc mạch. (Xem thêm mục ‘Cơ chế tác dụng’ ở dưới.)
-
Chỉ định – Hydroxyurea có hiệu quả trong việc cải thiện tỉ lệ sống sót và giảm các biến chứng của SCD (bảng 1). Cách tiếp cận để quyết định sử dụng hydroxyurea được trình bày trong sơ đồ thuật toán (sơ đồ 1). (Xem thêm mục ‘Chỉ định và bằng chứng về hiệu quả’ ở dưới.)
-
Kiểu gen Hb SS hoặc beta0 thalassemia hồng cầu hình liềm
-
Trẻ nhũ nhi, trẻ em và thanh thiếu niên – Đối với trẻ nhũ nhi từ 9 tháng tuổi trở lên, trẻ em và thanh thiếu niên có kiểu gen Hb SS hoặc beta0 thalassemia hồng cầu hình liềm, chúng tôi khuyến cáo sử dụng hydroxyurea (Khuyến cáo 1B). Một thử nghiệm ngẫu nhiên và nhiều nghiên cứu quan sát đã chứng minh thuốc giúp giảm các biến chứng tắc mạch (viêm xương khớp ngón tay/chân, các đợt đau, hội chứng ngực cấp). Hydroxyurea có thể được cân nhắc sử dụng cho trẻ từ 6 đến 9 tháng tuổi nếu có triệu chứng. (Xem thêm mục ‘Trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ’ và ‘Trẻ lớn, thanh thiếu niên và người trưởng thành’ ở dưới.)
-
Người trưởng thành – Đối với người trưởng thành có kiểu gen đồng hợp tử Hb SS hoặc beta0 thalassemia hồng cầu hình liềm, chúng tôi tiếp tục (hoặc chỉ định) dùng hydroxyurea; những bệnh nhân này hầu hết luôn có triệu chứng. Các trường hợp ngoại lệ bao gồm một số ít người không có triệu chứng, người đang muốn thụ thai hoặc phụ nữ mang thai; đối với nhóm sau, thời điểm bắt đầu và ngưng hydroxyurea sẽ được cá thể hóa. (Xem thêm mục ‘Trẻ lớn, thanh thiếu niên và người trưởng thành’ ở dưới và mục “Bệnh hồng cầu hình liềm: Các cân nhắc trong sản khoa”, phần ‘Hydroxyurea’.)
-
Các kiểu gen khác – Đối với những người mắc bệnh Hb SC, beta+ thalassemia hồng cầu hình liềm hoặc các kiểu gen khác có diễn tiến bệnh nhẹ hơn, việc sử dụng hydroxyurea được cá thể hóa tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh. Với những bệnh nhân hiếm gặp mắc bệnh Hb SC có triệu chứng (được định nghĩa là có từ hai biến cố tắc mạch trở lên mỗi năm [ví dụ: đau do tắc mạch, viêm xương khớp ngón tay/chân, hội chứng ngực cấp, cương cứng kéo dài]), chúng tôi đề xuất sử dụng hydroxyurea (Khuyến cáo 2B). Hydroxyurea thường không được sử dụng cho những bệnh nhân có bệnh lý diễn tiến nhẹ.
-
-
Xét nghiệm cơ bản – Các xét nghiệm trước khi bắt đầu dùng hydroxyurea bao gồm: tổng phân tích tế bào máu (CBC) kèm công thức bạch cầu, số lượng tiểu cầu, số lượng hồng cầu lưới, tỷ lệ phần trăm Hb F, xét nghiệm chức năng thận, chức năng gan và thử thai đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. (Xem thêm mục ‘Xét nghiệm cơ bản’ ở dưới.)
-
Liều dùng – Thông thường, chúng tôi bắt đầu liều cho trẻ nhũ nhi và trẻ em là 20 mg/kg/ngày và người trưởng thành là 15 đến 20 mg/kg/ngày; liều hàng ngày có thể làm tròn đến mức 2,5 mg/kg gần nhất. Đối với bệnh nhân có độ thanh thải creatinine <60 mL/phút, giảm một nửa liều. Liều dùng thường được tăng dần 5 mg/kg/ngày mỗi 8 tuần cho đến khi đạt liều tối đa dung nạp được (MTD) dựa trên các thông số huyết học (bảng 2). Cần hỗ trợ pha chế để tạo dạng thuốc lỏng. Điều trị được duy trì vô thời hạn nếu có hiệu quả. (Xem thêm mục ‘Liều khởi đầu’ và ‘Theo dõi, đánh giá đáp ứng, điều chỉnh liều’ ở dưới.)
Liều dùng và theo dõi tại khu vực cận Sahara châu Phi được thảo luận riêng. (Xem “Bệnh hồng cầu hình liềm tại khu vực cận Sahara châu Phi”.)
-
Tác dụng không mong muốn – Hydroxyurea tương đối ít độc tính. Suy tủy là độc tính gây giới hạn liều có thể dự đoán trước (bảng 3). Có thể xảy ra các thay đổi về da, tóc, móng và rối loạn tiêu hóa. Một số xét nghiệm creatinine huyết thanh và chỉ số từ máy theo dõi glucose liên tục có thể bị thay đổi. Số lượng và chất lượng tinh trùng có thể giảm ngay cả khi không dùng hydroxyurea, và dữ liệu sơ bộ cho thấy hydroxyurea không làm trầm trọng thêm các thông số này. Những lo ngại về khả năng gây ung thư phần lớn đã được bác bỏ. (Xem thêm mục ‘Tác dụng không mong muốn’ ở dưới.)
-
Không đáp ứng điều trị – Đánh giá các nguyên nhân có thể điều chỉnh dẫn đến việc không đáp ứng; nếu không có đáp ứng về huyết học, có thể ngưng điều trị và/hoặc sử dụng các liệu pháp khác. (Xem thêm mục ‘Không đáp ứng về huyết học’ ở dưới.)
-
Các lựa chọn thay thế và bổ sung cho hydroxyurea – Các chủ đề riêng biệt thảo luận về:
-
Các khía cạnh khác trong quản lý SCD – (Xem “Tổng quan về chăm sóc dự phòng/ngoại trú trong bệnh hồng cầu hình liềm” và “Bệnh hồng cầu hình liềm ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Tổng quan về chăm sóc dự phòng thường quy và hướng dẫn tiên lượng”.)
-
Các liệu pháp nội khoa khác – (Xem “Các liệu pháp điều chỉnh diễn tiến bệnh để ngăn ngừa đau và các biến chứng khác của bệnh hồng cầu hình liềm” và “Các liệu pháp dược lý đang trong giai đoạn nghiên cứu cho bệnh hồng cầu hình liềm”.)
-
Truyền máu mạn tính – (Xem “Truyền hồng cầu trong bệnh hồng cầu hình liềm: Chỉ định, tương thích hồng cầu và các điều chỉnh”.)
-
Ghép tế bào gốc tạo máu và liệu pháp gen – (Xem “Các liệu pháp điều trị khỏi bệnh trong bệnh hồng cầu hình liềm bao gồm ghép tế bào gốc tạo máu và liệu pháp gen”.)
-