TÓM TẮT
Lợi ích gia tăng của sacubitril-valsartan so với đơn trị liệu bằng ramipril đã được nghiên cứu trong thử nghiệm PARADISE-MΙ. Trong nghiên cứu so sánh mù, tiến cứu này, 5669 bệnh nhân trong vòng 7 ngày sau nhồi máu cơ tim (MI) và có các đặc điểm nguy cơ cao phát triển suy tim sau đó được phân nhóm ngẫu nhiên để dùng ramipril 5 mg hai lần mỗi ngày hoặc sacubitril-valsartan với liều mục tiêu được chuẩn độ lên 97/103 mg hai lần mỗi ngày.
Tiêu chí kết hợp bao gồm tử vong do tim mạch, nhập viện vì suy tim lần đầu hoặc chẩn đoán suy tim ngoại trú được đánh giá sau 23 tháng theo dõi. Tỷ lệ xảy ra tiêu chí chính là tương đương (11,9% so với 13,9% ở nhóm đối chứng). Hạ huyết áp thường gặp hơn ở nhóm dùng sacubitril-valsartan (28,4% so với 22,0%), nhưng tỷ lệ ngừng thuốc là tương đương giữa hai nhóm 40.
TỔNG KẾT
Hiệu quả điều trị – Nhiều phương pháp điều trị đơn lẻ mang lại lợi ích trong quản lý bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, bao gồm tái thông mạch vành bằng can thiệp mạch vành qua da hoặc tiêu sợi huyết, aspirin, thuốc chẹn beta và statin. Thuốc ức chế men chuyển (ACE) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) có tác dụng cải thiện tỷ lệ tử vong sau nhồi máu cơ tim cấp. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy nhóm thuốc nào ưu việt hơn nhóm còn lại. (Xem ‘Tác dụng của thuốc ức chế men chuyển đối với chức năng tim và tỷ lệ tử vong’ ở dưới.)
Sử dụng trên bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thu – Các khuyến cáo về việc sử dụng thuốc ức chế men chuyển và ARB sau nhồi máu cơ tim, sử dụng thuốc ức chế men chuyển ở bệnh nhân suy tim (HF) do rối loạn chức năng tâm thu, cũng như cơ chế tác dụng của thuốc ức chế men chuyển được thảo luận riêng. (Xem “Thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin trong nhồi máu cơ tim cấp: Khuyến cáo sử dụng” và “Điều trị dược lý ban đầu cho suy tim phân suất tống máu giảm”, phần ‘Bằng chứng’.)